Chỉ thị về việc tăng cường công tác Thống kê trên địa bàn tỉnh Quảng Trị - 16/09/2022    
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NĂM 2022 - 01/06/2022    
Tỉnh Quảng Trị ra quân Tổng điều tra Kinh tế năm 2021 giai đoạn 2 - 03/07/2021    
Ngành Thống kê 75 năm xây dựng và trưởng thành - 06/05/2021    
Xác định đúng nguồn lực mới thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng theo kế hoạch - 06/05/2021    
KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH THỐNG KÊ (06/5/1946-06/5/2021) - 25/04/2021    
TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2021 - 10/03/2021    
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 01 NĂM 2016 - 08/04/2016    
Hội nghị điển hình tiên tiến Ngành Thống kê năm 2015 - 18/04/2015    
Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2015 của Tổng cục Thống kê - 04/02/2015    
Kế hoạch công tác tháng 01 năm 2015 - 27/01/2015    
Kế hoạch công tác tháng 12 năm 2014 - 27/01/2015    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2014 - 12/11/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2014 - 01/10/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2014 - 27/08/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2014 - 23/07/2014    
Đoàn Công tác của Tổng cục Thống kê tại Vương quốc Campuchia - 21/07/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014 - 23/06/2014    
Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác chia sẻ thông tin giữa Tổng cục Thống kê và Ban Kinh tế Trung ương - 05/06/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2014 - 23/05/2014    
Trực tuyến: 218
Hôm nay: 1,364
Lượt truy cập: 1,128,560
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 4 NĂM 2023
Cập nhật bản tin: 6/4/2023
            

 

Tháng 4/2023, nhân Kỷ niệm 48 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4); Kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị (1/5) và Ngày Quốc tế lao động 1/5…trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động lễ hội: Lễ hội Thống nhất non sông và Khai trương mùa du lịch Quảng Trị năm 2023, Lễ hội Văn hóa - Ẩm thực Việt Nam năm 2023...thu hút khách du lịch đến với Quảng Trị. Các ngành kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển, thị trường thương mại và dịch vụ phục hồi mạnh mẽ do nhu cầu tiêu dùng tăng.  

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông nghiệp trong tháng, các địa phương chuẩn bị thu hoạch lúa, ngô…vụ Đông Xuân 2022-2023. Chăn nuôi tiếp tục đà phục hồi, dịch bệnh được kiểm soát. Sản xuất lâm nghiệp, do nắng nóng xuất hiện; ngành chức năng và các địa phương xây dựng phương án, tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Ngành thủy sản do ảnh hưởng giá xăng dầu tăng và thiếu lao động đi biển…nên sản lượng thuỷ sản khai thác chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước.

1.1. Nông nghiệp

a. Trồng trọt

* Tiến độ sản xuất vụ Đông Xuân đến ngày 15/4/2023

Tính đến ngày 15/4/2023, cây lúa gieo cấy 26.061,6 ha, tăng 0,04% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô gieo trồng 3.220,3 ha, giảm 0,54%; khoai lang 1.010,9 ha, giảm 10,08%; lạc 2.897,1 ha, tăng 0,84%; rau các loại 3.749,5 ha, giảm 2,48%; đậu các loại 581,1 ha, tăng 0,61%...Cây khoai lang diện tích giảm do sản xuất kém hiệu quả, chuyển sang trồng các loại cây khác.

Thời tiết trong tháng khá thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Hiện nay, có khoảng 93% (24.000 ha) diện tích lúa đã trổ; lúa trà đầu sắp cho thu hoạch; dự kiến toàn tỉnh thu hoạch tập trung từ đầu tháng 5 và kết thúc trước 20/5. Cây ngô, đang giai đoạn phát triển quả, ngô nếp đang cho thu hoạch bán quả tươi. Cây lạc, sinh trưởng phát triển tốt, đang trong giai đoạn phát triển quả. Rau các loại cho thu hoạch, sản lượng 4 tháng đầu năm 2023 ước tính đạt 30.501,4 tấn, tăng 0,81% so với cùng kỳ năm trước. 

Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm chủ yếu 

 

Ước thực hiện đến ngày 15/4/2023 (Ha)

Ước thực hiện đến 15/4/2023 so với cùng kỳ năm trước (%)

- Lúa

26.061,6

100,04

- Ngô

3.220,3

99,46

- Khoai lang

1.010,9

89,92

- Lạc

2.897,1

100,84

- Rau các loại

3.749,5

97,52

- Đậu các loại

581,1

100,61

Tình hình sinh vật gây hại trên cây hàng năm vụ Đông Xuân:

Trên cây lúa: Chuột gây hại 1.195 ha, tỷ lệ hại phổ biến 5 - 10%, nơi cao 15 - 25%; bệnh đạo ôn lá, diện tích nhiễm 354 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 10 - 20%, nơi cao 25%, trong đó nhiễm nặng 7,2 ha; bệnh đốm sọc vi khuẩn, bạc lá, diện tích nhiễm 64 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 10 - 20%, nơi cao 30 - 50%; bệnh khô vằn, diện tích nhiễm 579 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 10 - 20%, nơi cao 30 - 45%; sâu cuốn lá nhỏ, diện tích nhiễm 234 ha, mật độ phổ biến 5 - 10 con/m2, nơi cao 15 con/m2; rầy các loại, diện tích nhiễm 12 ha, mật độ phổ biến 700 - 1.000 con/m2, nơi cao 2.000 con/m2; bệnh lem lép hạt, diện tích nhiễm 120 ha; bệnh đốm nâu, diện tích nhiễm 235 ha. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu, diện tích nhiễm 73 ha, mật độ phổ biến 2 - 4 con/m2, nơi cao 8 - 10 con/m2.

b. Chăn nuôi

Ước tính đến 30/4/2023, đàn trâu có 21.247 con, giảm 1,42% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 62.043 con, tăng 9,15%; đàn lợn thịt có 210.280 con, tăng 43,39%; đàn gia cầm có 3.845 nghìn con, tăng 5,92%; trong đó: đàn gà 3.213 nghìn con, tăng 12,15%...Đàn trâu, bò tương đối ổn định, đang phát triển theo hướng nâng cấp các loại giống có giá trị kinh tế cao nhân rộng ra các địa phương. Đàn lợn tiếp tục phục hồi mạnh mẽ, khuyến khích các trang trại chăn nuôi mở rộng quy mô, phát triển tối đa năng lực, công suất nhằm tăng tổng đàn. Đàn gia cầm phát triển khá, các trang trại chăn nuôi gia cầm liên kết với các doanh nghiệp, mở rộng quy mô; động viên các hộ nông dân phát triển đàn gia cầm để ổn định sinh kế, tăng thu nhập. Hiện nay, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm đang được kiểm soát, thuận lợi cho chăn nuôi phát triển; tuy nhiên, giá thức ăn chăn nuôi ở mức cao, giá bán sản phẩm chăn nuôi ở mức thấp, công tác tái đàn gặp khó khăn.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 4/2023 ước tính đạt 3.623 tấn, tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu 74 tấn, tăng 1,23%; thịt bò 270,2 tấn, tăng 3,72%; thịt lợn 1.981,4 tấn, tăng 1,80%; thịt gia cầm 1.297,4 tấn, tăng 0,86%. Sản lượng trứng gia cầm 3.950 nghìn quả, tăng 1,80%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 18.260,1 tấn, tăng 8,75% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu 277 tấn, tăng 3,32%; thịt bò 1.136,8 tấn, tăng 2,02%; thịt lợn 11.422,2 tấn, tăng 11,49%; thịt gia cầm 5.424,1 tấn, tăng 5,06%. Sản lượng trứng gia cầm 15.291 nghìn quả, tăng 2,68%.  

Sản phẩm chăn nuôi 

 

Ước

tháng 4/2023

 

Ước

4 tháng năm 2023

 

So với cùng kỳ năm 2022 (%)

Tháng 4/2023

4 tháng năm 2023

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (Tấn)

3.623,0

18.260,1

101,59

108,75

- Thịt trâu

74,0

277,0

101,23

103,32

- Thịt bò

270,2

1.136,8

103,72

102,02

- Thịt lợn

1.981,4

11.422,2

101,80

111,49

- Thịt gia cầm

1.297,4

5.424,1

100,86

105,06

Sản lượng trứng gia cầm (Nghìn quả)

3.950,0

15.291,0

101,80

102,68

Tình hình dịch bệnh: 4 tháng đầu năm 2023, tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát; chỉ xảy ra 1 ổ dịch Lỡ mồm long móng tại huyện Đakrông trong tháng 02/2023 với 100 con trâu, bò mắc bệnh.

1.2. Lâm  nghiệp

Trong tháng, thời tiết bắt đầu xuất hiện những ngày nắng nóng đầu mùa, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra cháy rừng; ngành chức năng tham mưu chính quyền địa phương các cấp xây dựng phương án, kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng. Tranh thủ thời tiết thuận lợi tổ chức trồng rừng tập trung theo kế hoạch, khai thác gỗ phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Trong tháng Tư và 4 tháng đầu năm 2023, tình hình xuất khẩu gỗ và sản phẩm chế biến gặp khó khăn do đơn hàng giảm, giá xuất khẩu giảm nên sản lượng gỗ khai thác tăng không cao.

Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 4/2023 ước tính đạt 738 ha, tăng 43,86% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 348 nghìn cây, tăng 0,58%; sản lượng gỗ khai thác 98.103 m3, tăng 8,87%; sản lượng củi khai thác 21.070 ster, tăng 0,93%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 2.246,5 ha, tăng 13,12% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 1.246 nghìn cây, tăng 4,88%; sản lượng gỗ khai thác 330.103 m3, tăng 1,36%; củi khai thác 49.685 ster, tăng 1,37%.

Trong tháng Tư và 4 tháng đầu năm 2023, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Ngành chức năng phát hiện 28 vụ vi phạm lâm luật, xử lý vi phạm 15 vụ, phạt tiền 831,75 triệu đồng, tịch thu 11,677 m3 gỗ quy tròn các loại.

Trồng rừng và khai thác lâm sản 

 

Ước  tháng 4/2023

 

Ước 4 tháng năm 2023

 

So với cùng kỳ năm 2022 (%)

Tháng 4/2023

4 tháng năm 2023

1. Trồng rừng tập trung (Ha)

738,0

2.246,5

143,86

113,12

2. Số cây LN trồng phân tán (1000 cây)

348,0

1.246,0

100,58

104,88

3. Sản lượng gỗ khai thác (M3)

98.103,0

330.103,0

108,87

101,36

4. Sản lượng củi khai thác (Ster)

21.070,0

49.685,0

100,93

101,37

1.3. Thủy sản

Trong tháng, các địa phương bước vào khai thác vụ cá Nam; tàu đánh bắt xa bờ chủ yếu nghề rê, vây ánh sáng khai thác các loại cá ngừ, cá cơm, cá hố, mực…; vùng bãi ngang khai thác chủ yếu cá trích, cá cháo, mực...Do giá xăng dầu tiếp tục tăng, ảnh hưởng đến thu nhập của ngư dân; thiếu lao động đi biển, số chuyến biển giảm…nên sản lượng thuỷ sản khai thác chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản tháng 4/2023 ước tính đạt 3.367,04 tấn, tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá 2.839 tấn, tăng 0,46%; tôm 297 tấn, tăng 6,45%; thủy sản khác 231,04 tấn, bằng cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, sản lượng thủy sản ước tính đạt 11.066,54 tấn, tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá 7.830,30 tấn, giảm 7,38%; tôm 1.611,50 tấn, tăng 3,57%; thủy sản khác 1.624,74 tấn, tăng 107,60%. Cụ thể:  

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 4/2023 ước tính đạt 381,04 tấn, tăng 5,83% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 103 tấn, tăng 3%; tôm 278 tấn, tăng 6,92%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 2.928,54 tấn, tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 1.384,30 tấn, tăng 3,62%; tôm 1.535,50 tấn, tăng 3,75%. Nhìn chung nuôi trồng thuỷ sản ở Quảng Trị quy mô nhỏ, sản lượng thu hoạch hàng năm tương đối ổn định.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 4/2023 ước tính đạt 2.986 tấn, tăng 0,34% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 2.736 tấn, tăng 0,37%; thủy sản khác 231 tấn, bằng cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 8.138 tấn, tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 6.446 tấn, giảm 9,44%; thủy sản khác 1.616 tấn, tăng 108,79%. Hiện nay, do thu nhập của ngư dân thiếu ổn định; lao động vùng biển thường đi xuất khẩu lao động hoặc vào các khu công nghiệp trong tỉnh và ngoại tỉnh làm việc nên các tàu thuyển thường thiếu lao động đi biển, ảnh hưởng đến sản lượng thuỷ sản đánh bắt.

Sản lượng thủy sản 

 

Ước tháng 4/2023

(Tấn)

Ước 4 tháng năm 2023

(Tấn)

So với cùng kỳ năm 2022 (%)

Tháng 4/2023

4 tháng năm 2023

Tổng sản lượng thủy sản

3.367,04

11.066,54

100,93

102,54

1. Chia theo loại thủy sản

 

 

 

 

- Cá

2.839,00

7.830,30

100,46

92,62

- Tôm

297,00

1.611,50

106,45

103,57

- Thủy sản khác

231,04

1.624,74

100,00

207,60

2. Chia theo nuôi trồng, khai thác

 

 

 

 

- Nuôi trồng

381,04

2.928,54

105,83

103,68

- Khai thác

2.986,00

8.138,00

100,34

102,13

2. Sản xuất công nghiệp 

Sản xuất công nghiệp tháng 4/2023 ước tính chỉ tăng 0,66% so với tháng trước do sản xuất tinh bột sắn thiếu nguyên liệu, sản xuất trang phục đơn hàng giảm…So với cùng kỳ năm trước tăng 10,86%, trong đó: ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao nhất 18,62% do các dự án điện gió hoạt động với công suất tốt hơn; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,18% do một số doanh nghiệp có thêm đơn hàng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 12,21% so với cùng kỳ năm trước (4 tháng đầu năm 2022 tăng 7,23%).

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2023 ước tính tăng 0,66% so với tháng trước và tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành khai khoáng tăng 13,37% và giảm 12,26%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,95% và tăng 10,18%; sản xuất và phân phối điện giảm 1,93% và tăng 18,62%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,17% và tăng 3,52%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 12,21% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: ngành khai khoáng giảm 8,75%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,91%; sản xuất và phân phối điện tăng 31,46%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,31%. Ngành khai khoáng giảm so với cùng kỳ năm trước do công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản ngày càng chặt chẽ hơn; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao do các dự án điện gió, điện mặt trời sau một thời gian vận hành hoạt động với công suất tốt hơn.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 

 

Tháng 4/2023 so với tháng 3/2023

(%)

Tháng 4/2023 so với cùng kỳ năm trước (%)

4 tháng năm 2023 so với cùng kỳ năm trước (%)

Toàn ngành công nghiệp

100,66

110,86

112,21

- Khai khoáng

113,37

87,74

91,25

- Công nghiệp chế biến, chế tạo

100,95

110,18

105,91

- Sản xuất và phân phối điện

98,07

118,62

131,46

- Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

100,17

103,52

103,31

Trong ngành công nghiệp cấp 2, các ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm 2023 so với cùng kỳ năm trước tăng cao hơn chỉ số chung là: công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 39,07%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 34,50%; sản xuất và phân phối điện tăng 31,46%; sản xuất đồ uống tăng 29,63%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 25,81%;          sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 17,58%; sản xuất trang phục tăng 12,66%. Ở chiều ngược lại, các ngành có chỉ số sản xuất giảm: khai thác quặng kim loại giảm 7,79%; khai khoáng khác giảm 11,04%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 12,24%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 12,87%; dệt giảm 14,63%. Các ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu là do số đơn hàng giảm, giá xuất khẩu giảm mạnh…

Một số sản phẩm chủ yếu trong 4 tháng đầu năm 2023 so với cùng kỳ năm trước tăng cao: bia lon tăng 124,83%; gạch khối bằng bê tông tăng 113,85%;      thủy hải sản chế biến tăng 57,58%; điện sản xuất tăng 41,38%; xi măng tăng 13,37%; quần áo tăng 12,02%...Một số sản phẩm tăng thấp: tinh bột sắn tăng 9,26%; điện thương phẩm tăng 7,62%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 6,04%; phân hóa học tăng 5,27%; nước máy tăng 3,91%...Một số sản phẩm giảm:      lốp dùng cho xe máy, xe đạp giảm 2,15%; nước hoa quả, tăng lực giảm 3,33%;     dăm gỗ giảm 8,48%; đá xây dựng giảm 9,54%; tấm lợp pro xi măng giảm 14,21%; dầu nhựa thông giảm 14,99%; gỗ cưa hoặc xẻ giảm 18,97%; ván ép giảm 22,31%; săm dùng cho xe máy, xe đạp giảm 25,13%...Các sản phẩm 4 tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu là những sản phẩm sản xuất phục vụ xuất khẩu, có số lượng đơn hàng giảm…   

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2023 tăng 0,27% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 5,28% so với cùng thời điểm năm trước. So với cùng thời điểm năm trước, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,30%, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 8,65%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,78%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 5,32%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,82%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,37%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,20%. Số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2023 tăng so với cùng thời điểm năm trước chủ yếu là do lao động trong các doanh nghiệp khai thác đá, cát, sỏi phục vụ xây dựng tăng và lao động trong các ngành sản xuất, chế biến thực phẩm, sản xuất đồ uống tăng do có thêm đơn hàng nên tuyển thêm lao động.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong 4 tháng đầu năm 2023, mặc dù nền kinh tế đang tiếp tục phục hồi nhưng doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, lãi suất ngân hàng tăng; giá nguyên, nhiên, vật liệu tăng; số đơn hàng xuất khẩu giảm…Số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động giảm 11,50%, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể tăng 34,35% so với cùng kỳ năm trước.

Từ đầu năm đến 15/4/2023, toàn tỉnh có 161 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 4,17% (-07 DN) so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 1.401,4 tỷ đồng, giảm 31,83%; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp 8,70 tỷ đồng, giảm 28,86%. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 191 doanh nghiệp, tăng 29,05% (+43 DN) so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp giải thể là 28 doanh nghiệp, tăng 86,67% (+13 DN); số doanh nghiệp trở lại hoạt động là 70 doanh nghiệp, giảm 24,73% (-23 DN).

Trong số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến 15/4/2023, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 01 doanh nghiệp, chiếm 0,62% và giảm 83,33% so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp - xây dựng có 61 DN, chiếm 37,89% và tăng 17,31%; khu vực dịch vụ có 99 DN, chiếm 61,49% và giảm 10%.

4. Đầu tư  

Tháng 4/2023, các Sở, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện nên vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng 25,41% so với tháng trước; nhưng giảm 16,41% so với cùng kỳ năm trước do kế hoạch giao vốn năm 2023 chỉ bằng 75% năm 2022, vốn đầu tư từ quỹ sử dụng đất giảm mạnh, công tác giải phóng mặt bằng không đảm bảo tiến độ cam kết…Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính bằng 16,09% kế hoạch và giảm 20,95% so với cùng kỳ năm trước (4 tháng đầu năm 2022 bằng 22,07% kế hoạch và tăng 2,69%).

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2023 ước tính đạt 198,54 tỷ đồng, tăng 25,41% so với tháng trước và giảm 16,41% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 147,31 tỷ đồng, tăng 20,76% và giảm 22,24%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 46,30 tỷ đồng, tăng 40,73% và tăng 11,21%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 4,93 tỷ đồng, tăng 43,86% và giảm 23,51%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính đạt 580,64 tỷ đồng, bằng 16,09% kế hoạch năm 2023 và giảm 20,95% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 449,96 tỷ đồng, bằng 17,50% kế hoạch và giảm 24,09%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 120,15 tỷ đồng, bằng 13,08% kế hoạch và giảm 5,69%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 10,53 tỷ đồng, bằng 8,83% kế hoạch và giảm 26,89%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 

 

Ước tính tháng 4/2023

(Tỷ đồng)

Ước tính 4 tháng năm 2023

(Tỷ đồng)

Tháng 4/2023 so với cùng kỳ năm trước

(%)

4 tháng

năm 2023 so với kế hoạch năm 2023 (%)

4 tháng

năm 2023 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng số

198,54

580,64

83,59

16,09

79,05

- Vốn ngân sách cấp tỉnh

147,31

449,96

77,76

17,50

75,91

- Vốn ngân sách cấp huyện

46,30

120,15

111,21

13,08

94,31

- Vốn ngân sách cấp xã

4,93

10,53

76,49

8,83

73,11

 

Tiến độ giải ngân vốn: Theo số liệu Kho bạc Nhà nước tỉnh đến 15/4/2023: Nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương do tỉnh quản lý năm 2023 đã giải ngân 289,5 tỷ đồng, đạt 9,37% kế hoạch giao năm 2023.

5. Thương mại và dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 4/2023, thời tiết bước vào mùa nắng nóng nên nhu cầu các mặt hàng may mặc, đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình…phục vụ cho mùa Hè tăng; thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng nên nhu cầu vật liệu xây dựng tăng; thời gian nghĩ Lễ kéo dài, trên địa bàn tỉnh diễn ra Lễ hội  Văn hóa - Ẩm thực Việt Nam năm 2023 thu hút khách du lịch đến với Quảng Trị…nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 6,45% so với tháng trước. Kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển, nhu cầu tiêu dùng tăng nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2023 tăng 20,51% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 18,54% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 13,16% (4 tháng đầu năm 2022 tăng 5,99%).

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2023 ước tính đạt 2.763,22 tỷ đồng, tăng 6,45% so với tháng trước và tăng 20,51% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu bán lẻ hàng hóa 2.211,67 tỷ đồng, tăng 5,69% và tăng 18,92%; doanh thu lưu trú và ăn uống 413,33 tỷ đồng, tăng 10,98% và tăng 35,68%; doanh thu dịch vụ lữ hành 0,92 tỷ đồng, tăng 2,67% so với cùng kỳ năm trước (tháng 3/2023 không phát sinh doanh thu); doanh thu dịch vụ khác 137,30 tỷ đồng, tăng 5,09% và tăng 7,59%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 10.179,99 tỷ đồng, tăng 18,54% so với cùng kỳ năm trước.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 8.184,21 tỷ đồng, chiếm 80,40% tổng mức và tăng 17,73% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng có tổng mức bán lẻ hàng hóa lớn và tăng khá như: hàng may mặc tăng 24,37%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 22,71%; ô tô con tăng 22,27%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 17,21%…

Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước tính đạt 1.465,33 tỷ đồng, chiếm 14,39% tổng mức và tăng 27,05% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu dịch vụ lưu trú 71,68 tỷ đồng, tăng 99,07%; doanh thu dịch vụ ăn uống 1.393,65 tỷ đồng, tăng 24,73%.

Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 1,12 tỷ đồng, chiếm 0,01% tổng mức và tăng 24,86% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 529,33 tỷ đồng, chiếm 5,20% tổng mức và tăng 9,77% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 

 

Ước tháng 4/2023

( Tỷ đồng)

Ước 4 tháng

năm 2023

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng mức

(Tỷ đồng)

Cơ cấu

(%)

Tháng 4/2023

4 tháng năm 2023

Tổng số

2.763,22

10.179,99

100,00

120,51

118,54

- Bán lẻ hàng hóa

2.211,67

8.184,21

80,40

118,92

117,73

- Lưu trú và ăn uống

413,33

1.465,33

14,39

135,68

127,05

- Du lịch lữ hành

0,92

1,12

0,01

102,67

124,86

- Dịch vụ khác

137,30

529,33

5,20

107,59

109,77

5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Tháng 4/2023, thời tiết thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh; thời gian nghĩ lễ  dài, nhu cầu đi lại của người dân tăng nên vận chuyển hành khách tăng 7,10%, luân chuyển hành khách tăng 9,93%, vận chuyển hàng hoá tăng 9,72%, luân chuyển hàng hoá tăng 5,05% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, vận chuyển hành khách tăng 6,40%, luân chuyển hành khách tăng 7,36%, vận chuyển hàng hoá tăng 7,81%, luân chuyển hàng hoá tăng 8,55% so với cùng kỳ năm trước (4 tháng đầu năm 2022 tương ứng là -0,18%, -1,76%, +1,86%, +1,67%).

Doanh thu vận tải tháng 4/2023 ước tính đạt 178,37 tỷ đồng, tăng 0,70% so với tháng trước và tăng 11,05% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu vận tải hành khách 28,22 tỷ đồng, tăng 0,52% và tăng 11,24%; doanh thu vận tải hàng hóa 121,95 tỷ đồng, tăng 0,89% và tăng 11,61%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 28,20 tỷ đồng, tăng 0,04% và tăng 8,54%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, doanh thu vận tải ước tính đạt 706,14 tỷ đồng, tăng 9,76% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu vận tải hành khách 113,23 tỷ đồng, tăng 10,59%; doanh thu vận tải hàng hóa 480,88 tỷ đồng, tăng 9,88%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 112,03 tỷ đồng, tăng 8,56%.

 Số lượt hành khách vận chuyển tháng 4/2023 ước tính đạt 658,59 nghìn HK, tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 7,10% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 56.509,05 nghìn HK.km, tăng 0,41% và tăng 9,93%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, số lượt hành khách vận chuyển ước tính đạt 2.636,73 nghìn HK, tăng 6,40% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 221.587,32 nghìn HK.km, tăng 7,36%.

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 4/2023 ước tính đạt 1.023,48 nghìn tấn, tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 9,72% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 76.363,29 nghìn tấn.km, tăng 0,23% và tăng 5,05%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, khối lượng hàng hoá vận chuyển ước tính đạt 3.962,03 nghìn tấn, tăng 7,81% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 289.365,46 nghìn tấn.km, tăng 8,55%.

Vận tải hành khách và hàng hóa 

 

 

Ước tháng 4/2023

 

Ước 4 tháng năm 2023

 

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 4/2023

4 tháng  năm 2023

1. Vận tải hành khách

 

 

 

 

- Vận chuyển (Nghìn HK)

658,59

2.636,73

107,10

106,40

- Luân chuyển (Nghìn HK.Km)

56.509,05

221.587,32

109,93

107,36

2. Vận tải hàng hóa

 

 

 

 

- Vận chuyển (Nghìn tấn)

1.023,48

3.962,03

109,72

107,81

- Luân chuyển (Nghìn tấn.Km)

76.363,29

289.365,46

105,05

108,55

5.3. Khách lưu trú và du lịch lữ hành

Tháng Tư, bước vào mùa du lịch, thời tiết khá thuận lợi; thời gian nghĩ lễ dài; trên địa bàn tỉnh tổ chức Lễ hội Văn hóa - Ẩm thực Việt Nam năm 2023…đã thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đến với Quảng Trị. Tháng 4/2023, lượt khách lưu trú tăng 11,04%, ngày khách lưu trú tăng 6,44% so với tháng trước (khách du lịch lữ hành tháng trước không phát sinh). Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, lượt khách lưu trú tăng 273,09%, ngày khách lưu trú tăng 254,46%, lượt khách du lịch theo Tour tăng 88,89%, ngày khách du lịch theo tour tăng 80,22% so với cùng kỳ năm trước (4 tháng đầu năm 2022 tương ứng là +14,17%, +14,31%, + 63,33% và +75%).

Số lượt khách lưu trú tháng 4/2023 ước tính đạt 95.773 lượt, tăng 11,04% so với tháng trước và tăng 180,40% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú (chỉ tính khách ngũ qua đêm) 69.599 ngày khách, tăng 6,44% và tăng 176,16%; số lượt khách du lịch theo tour ước tính đạt 216 lượt khách, giảm 7,69% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách du lịch theo tour 620 ngày khách, tăng 36,26% (tháng 3/2023, du lịch theo tour không phát sinh).

Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, số lượt khách lưu trú ước tính đạt 305.068 lượt, tăng 273,09% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú 260.045 ngày khách, tăng 254,46%; số lượt khách du lịch theo tour 442 lượt khách, tăng 88,89%, số ngày khách du lịch theo tour 820 ngày khách, tăng 80,22%.

6. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Tháng 4/2023, giá xăng dầu điều chỉnh tăng theo giá thị trường thế giới; giá lương thực và ăn uống ngoài gia đình tăng…Tuy nhiên, do giá điện sinh hoạt giảm, giá ga điều chỉnh giảm, giá thực phẩm và một số nhóm hàng hoá tiêu dùng giảm do nguồn cung dồi dào là nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng giảm so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2023 giảm 0,12% so với tháng trước, tăng 0,90% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2023 tăng 4,75% so với cùng kỳ năm trước (4 tháng đầu năm 2022 tăng 2,59%). 

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2023 giảm 0,12% so với tháng trước, tăng 0,90% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức giảm 0,12% của chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2023 so với tháng trước, có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có giá giảm là: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,06%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,17%; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,10%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07% (lương thực tăng 1,44%, thực phẩm giảm 0,72%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,98%); thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,05%. Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng là: bưu chính viễn thông tăng 0,09%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,25%; giao thông tăng 0,26%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,62%. Có 2/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ: thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục giá ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2023 tăng 4,75% so với  cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá vàng tháng 4/2023 tăng 0,19% so với tháng trước, giảm 0,15% so với tháng 12 năm trước và giảm 3,34% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 4 tháng đầu năm 2023 tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước (4 tháng đầu năm 2022 tăng 16,07%).

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2023 giảm 0,88% so với tháng trước, giảm 2,25% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,72% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 4 tháng đầu năm 2023 tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước (4 tháng đầu năm 2022 giảm 0,93%).

Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ                                                                                                         

 

Tháng 4 năm 2023 so với

BQ 4 tháng  năm 2023 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 4/2022

(%)

Tháng 12/2022

(%)

Tháng 3/2023

(%)

1. Chỉ số giá tiêu dùng

103,65

100,90

99,88

104,75

2. Chỉ số giá vàng

96,66

99,85

100,19

103,16

3. Chỉ số giá đô la Mỹ

102,72

97,75

99,12

103,44

7. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Trong 4 tháng đầu năm 2023, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt thấp so với dự toán và so với cùng kỳ năm trước; nhất là các khoản thu về đất đạt rất thấp. Chi ngân sách Nhà nước đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước theo tiến độ chi hàng năm…Thu ngân sách trên địa bàn từ đầu năm đến 18/4/2023 bằng 24,31% dự toán và giảm 50,28% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách nhà nước địa phương bằng 37,03% dự toán và tăng 23,61%.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến ngày 18/4/2023 là 984,47 tỷ đồng, đạt 24,31% dự toán địa phương năm 2023 và giảm 50,28% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thu nội địa 743,31 tỷ đồng, đạt 21,86% dự toán địa phương và giảm 58,16%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 240,96 tỷ đồng, đạt 37,07% dự toán địa phương và tăng 28,68%. Trong thu nội địa, một số khoản thu lớn như: thu ngoài quốc doanh 319,04 tỷ đồng, tăng 15,05% so với cùng kỳ năm trước; thu từ doanh nghiệp nhà nước 67,12 tỷ đồng, giảm 23,13%; thuế thu nhập cá nhân 60,92 tỷ đồng, giảm 24,55%; thu tiền sử dụng đất 59,02 tỷ đồng, giảm 93,36%; thuế bảo vệ môi trường 51,87 tỷ đồng, giảm 33,26%; lệ phí trước bạ 48,86 tỷ đồng, giảm 44,34%...

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 18/4/2023 là 3.525,46 tỷ đồng, đạt 37,03% dự toán địa phương năm 2023 và tăng 23,61% cùng kỳ năm trước; trong đó: chi đầu tư phát triển 126,45 tỷ đồng, đạt 9,07% dự toán địa phương và giảm 58,79%; chi thường xuyên 1.474,24 tỷ đồng, đạt 27,08% dự toán địa phương và giảm 2,77%. Trong chi thường xuyên, một số khoản chi lớn như: chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề 668,37 tỷ đồng, tăng 6,15% so với cùng kỳ năm trước; chi quản lý hành chính 376,66 tỷ đồng, tăng 9,61%; chi sự nghiệp y tế, dân số và KHHGĐ 117,22 tỷ đồng, giảm 16,74%; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội 116,54 tỷ đồng, giảm 25,84%; chi sự nghiệp kinh tế 75,92 tỷ đồng, giảm 37,92%... 

Thu, chi ngân sách nhà nước 

 

Thực hiện đến 18/4/2023

( Tỷ đồng)

Thực hiện đến 18/4/2023 so với dự toán 

năm 2023 (%)

Thực hiện đến 18/4/2023 so với cùng kỳ năm trước (%)

1. Tổng thu NSNN trên địa bàn

984,47

24,31

49,92

TĐ: - Thu nội địa

743,31

21,86

41,84

       - Thu từ hoạt động XNK

240,96

37,07

128,68

2. Tổng chi NSNN địa phương

3.525,46

37,03

123,61

TĐ: - Chi đầu tư phát triển

126,45

9,07

41,21

       - Chi thường xuyên

1.474,24

27,08

97,23

8. Một số tình hình xã hội

8.1. Đời sống dân cư  

Trong tháng thời tiết khá thuận lợi, các ngành kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển; công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, các ngành thực hiện kịp thời, hiệu quả nên tình hình thiếu đói của dân cư nói chung và khu vực nông thôn nói riêng không xảy ra.

8.2. Giáo dục và Đào tạo

Ngành giáo dục và Đào tạo tiếp tục tập trung hoàn thành tốt các nhiệm vụ trọng tâm trong học kỳ II, chỉ đạo công tác ôn tập thi tốt nghiệp, chuẩn bị các điều kiện đảm bảo cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023. Tổ chức Hội nghị thi tốt nghiệp THPT và triển khai công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2023.

Tích cực chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất để triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới đối với lớp 4, lớp 8, lớp 11 áp dụng năm học 2023 - 2024.

Tổ chức thành công Hội thi thể thao học sinh phổ thông tỉnh Quảng Trị năm học 2022 - 2023, có 877 vận động viên đăng ký tham gia thuộc 42 đoàn đến từ 9 phòng GDĐT huyện, thị xã, thành phố và 32 trường phổ thông có cấp THPT tranh tài ở 104 nội dung thuộc bộ môn Điền kinh và Bơi. Kết quả, đã trao 150 giải Nhất, 191 giải Nhì và 283 giải Ba cho các nội dung.

Tổ chức “Ngày hội văn hoá các dân tộc Việt Nam” khối các trường Phổ thông dân tộc Nội trú, Phổ thông dân tộc Bán trú năm học 2022 - 2023 trong 02 ngày 18 - 19/4/2023 với sự tham gia của giáo viên, học sinh và cán bộ quản lý của 05 trường phổ thông dân tộc nội trú và 08 phổ thông dân tộc bán trú trên địa bàn toàn tỉnh.

Tham dự cuộc thi KHKT cấp quốc gia năm 2023, Đoàn Quảng Trị có 02 dự án tham gia dự thi; kết quả đạt 01 giải Nhì và 01 giải Tư cấp quốc gia. Tham dự cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp” quốc gia lần thứ V, năm học 2022 - 2023, Đoàn Quảng Trị có 05 dự án tham gia; kết quả dự án “Thiết kế mô hình ảo Thành Cổ Quảng Trị phục vụ giáo dục và du lịch” của nhóm học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn đạt giải Nhất. Tham gia Cuộc thi “An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai” cấp THPT năm học 2022 - 2023, kết quả Đoàn Quảng Trị đạt 02 giải Nhì, 13 giải Ba, 24 giải Khuyến khích.Tham gia giao lưu “An toàn giao thông cho nụ cười trẻ thơ” cấp quốc gia năm học 2022 - 2023, kết quả đạt 01 giải Nhất.

8.3. Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực  phẩm

Trong tháng 4/2023 (từ 15/03 đến 14/04/2023) toàn tỉnh đã ghi nhân 03 ca mắc COVID-19. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, toàn tỉnh ghi nhận 9 ca mắc COVID-19, không có trường hợp tử vong. Hiện nay còn 01 ca bệnh đang điều trị tại cơ sở y tế và 01 ca bệnh đang điều trị tại nhà.

* Tình hình tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19 (đến ngày 14/4/2023):

+ Số người từ 18 tuổi trở lên đã hoàn thành mũi cơ bản đạt 98,54%, số người tiêm mũi nhắc lại lần 1 đạt 78,83%, số người tiêm mũi bổ sung đạt 10,51%, số người tiêm mũi nhắc lại lần 2 đạt 82,56%.

+ Số người từ 12 - dưới 18 tuổi đã hoàn thành mũi cơ bản đạt 97,60%, số người tiêm mũi nhắc lại lần 1 đạt 52,08%. 

+ Số người từ 5 - dưới 12 tuổi được tiêm mũi 1 đạt 69,29%, số người được tiêm 2 mũi đạt 57,07%.

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh có 387 ca mắc bệnh cúm; 14 ca mắc bệnh lỵ trực trùng; 01 ca mắc bệnh quai bị; 07 ca mắc bệnh thuỷ đậu; 96 ca mắc bệnh tiêu chảy; 14 ca mắc viêm gan vi rút; 41 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 01 ca mắc sốt rét; 01 ca mắc bệnh tay chân miệng. Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 1999 ca mắc bệnh cúm, giảm 11,05% (-149 ca) so với cùng kỳ năm trước; 06 ca mắc bệnh lỵ Amip, bằng cùng kỳ năm trước; 53 ca mắc bệnh lỵ trực trùng, tăng 55,88% (+19 ca); 01 ca mắc quai bị, giảm 75% (-3 ca); 61 ca mắc thuỷ đậu, tăng 144% (+36 ca); 341 ca mắc bệnh tiêu chảy, tăng 31,66% (+82 ca); 35 ca viêm gan vi rút, bằng 7 lần (+30 ca); 209 ca mắc bệnh sốt xuất huyết (+208 ca); 04 ca mắc tay chân miệng (+03 ca). Không có trường hợp nào tử vong.

Trong tháng, phát hiện thêm 03 trường hợp nhiễm HIV; 01 trường hợp tử vong do AIDS. Tính đến nay, số người nhiễm HIV còn sống trên địa bàn tỉnh là 295 người (số trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV là 11 trẻ, số bà mẹ mang thai nhiễm HIV sinh con là 42 bà mẹ); số bệnh nhân tử vong do AIDS trong toàn tỉnh tính đến thời điểm trên là 106 người.

Trong tháng Tư và 4 tháng đầu năm 2023, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào.

8.4. Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong tháng 4/2023, triển khai các nội dung chuẩn bị cho Lễ hội Thống nhất non sông và Khai trương mùa du lịch Quảng Trị năm 2023. Xây dựng kịch bản, triển khai tập luyện Chương trình nghệ thuật với chủ đề “Khúc ca hòa bình” biểu diễn phục vụ Lễ Thượng cờ Thống nhất non sông năm 2023.

Chuẩn bị cho “Lễ hội Văn hóa - Ẩm thực Việt Nam năm 2023” sẽ được tổ chức vào dịp Kỷ niệm 30/4 và 1/5 tại thị trấn Cửa Việt (huyện Gio Linh). Lễ hội Văn hóa - Ẩm thực Việt Nam năm 2023 là một sự kiện văn hóa, ẩm thực lớn do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức thu hút 80 gian hàng ẩm thực 3 miền Bắc – Trung - Nam tham gia Lễ hội.

 Tổ chức Lễ phát động Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc tỉnh Quảng Trị năm 2023, phối hợp với các đơn vị giáo dục triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc năm 2023 trên địa bàn tỉnh. 

Thực hiện công tác trang trí và tổ chức các hoạt động tuyến Phố đêm Đông Hà tại quảng trường Trung tâm Văn hóa – Điện ảnh tỉnh. Tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật phục vụ tuyến phố Đêm Đông Hà vào tối thứ 7 hàng tuần tại quảng trường Trung tâm Văn hóa – Điện ảnh tỉnh; xây dựng chương trình biểu diễn đêm nhạc Hoàng Thi Thơ tại xã Triệu Long (huyện Triệu Phong).

 Mở lớp truyền dạy dân ca Bình trị Thiên tại thị trấn Cam Lộ (huyện Cam Lộ); xây dựng kế hoạch mở trại sáng tác dân ca Bình Trị Thiên và Hò giã gạo; phục vụ chiếu phim lưu động tại hai huyện miền núi Hướng Hóa, Đakrông và 03 xã vùng khó của huyện Vĩnh Linh với 38 buổi, thu hút trên 10.000 người xem.

Tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và Tháng hoạt động thể dục, thể thao cho mọi người năm 2023. Tổ chức thành công giải Bơi, giải Điền kinh học sinh phổ thông tỉnh Quảng Trị năm học 2022-2023.

Công an tỉnh và các địa phương liên quan tổ chức đón Đoàn đua Xe đạp tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 35 năm 2023 “Non sông liền một dải - Niềm tin chiến thắng”...

Chuẩn bị các điều kiện tổ chức Giải Đua thuyền truyền thống "Lễ hội Thống nhất non sông" tỉnh Quảng Trị năm 2023 - Tranh cúp Huda.

Thành lập các đoàn thể thao tham gia giải Điền kinh người khuyết tật toàn quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh; giải vô địch Karate miền Trung - Tây Nguyên lần thứ IX; giải Đua thuyền Canoeing, Rowing vô địch các câu lạc bộ toàn quốc tại thành phố Đà Nẵng...

8.5. Tình hình thiên tai, cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng vào ngày 03/4, trên địa bàn huyện Đakrông đã xảy ra mưa dông kèm theo lốc xoáy làm gãy đổ 01 ha ngô của người dân, thiệt hại trên 70%; ngày 21-22/4, trên địa bàn tỉnh có mưa dông kèm theo lốc xoáy, mưa đá, sét và gió giật mạnh làm 01 người bị thương, 32 nhà bị hư hại, 2.979,3 ha lúa và 33,5 ha hoa màu bị thiệt hại; giá trị thiệt hại đang thống kê.

Tháng 4/2023, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ cháy, tăng 50% (+01 vụ) so tháng trước và giảm 50% (-03 vụ ) so với cùng kỳ năm trước; không có thiệt hại về người; thiệt hại về tài sản ước tính 531,1 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy, giảm 23,81% (-05 vụ) so với cùng kỳ năm trước; không có thiệt hại về người; thiệt hại về tài sản ước tính 665,6 triệu đồng, giảm 76,53%. 

Trong tháng, phát hiện và xử lý 16 vụ vi phạm môi trường xảy ra trên địa bàn tỉnh, giảm 77,78% (+07 vụ) so tháng trước và giảm 23,81% (-05 vụ) vụ so với cùng kỳ năm trước; số tiền xử phạt 222,2 triệu đồng, tăng 215,80% và giảm 2,97%. Tính chung từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh phát hiện và xử lý 72 vụ vi phạm môi trường, giảm 33,94% (-37 vụ) so với cùng kỳ năm trước; số tiền xử phạt là 664,71 triệu đồng, giảm 14,28%.

8.6. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, tháng 4/2023 (từ 15/3/2023 đến 14/4/2023), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông, giảm 16,67% (-02 vụ) so với tháng trước và giảm 44,44% (-08 vụ) so với cùng kỳ năm trước; làm chết 06 người, tăng 20% (+01 người) và giảm 50% (-06 người); bị thương 09 người, giảm 30,77% (-04 người) và giảm 52,63% (-10 người). Trong tất cả các vụ tai nạn giao thông trong tháng 4/2023, đường bộ xảy ra 09 vụ, làm chết 05 người, bị thương 09 người; đường sắt xảy ra 01 vụ, làm chết 01 người.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2023 (Từ 15/12/2022 đến 14/4/2023) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 55 vụ tai nạn giao thông, tăng 7,84% (+03 vụ) so với cùng kỳ năm trước; làm chết 27 người, giảm 18,18% (-06 người); bị thương 50 người, tăng 21,95% (+09 người). Trong tất cả các vụ tai nạn giao thông trong 4 tháng đầu năm 2023, đường bộ xảy ra 53 vụ, làm chết 26 người, bị thương 49 người; đường sắt xảy ra 02 vụ, làm chết 01 người, bị thương 01 người.

► Số liệu KT-XH tháng 4 năm 2023     

 

   CỤC THỐNG KÊ QUẢNG TRỊ


Hoạt động trong ngành
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG NĂM 2023 - 05/03/2024
CÔNG KHAI DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NĂM 2024 - 28/02/2024
CÔNG KHAI QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH - 18/09/2023
Hoạt động của nữ công Cục Thống kê Quảng Trị chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10/2022 - 19/10/2022
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NĂM 2022 - 01/06/2022
THÔNG BÁO KẾT LUẬN THANH TRA - 25/05/2022
HỘI NGHỊ THỐNG KÊ TOÀN QUỐC - 18/03/2022
KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH THỐNG KÊ (06/5/1946-06/5/2021) - 25/04/2021
ĐIỀU TRA NÔNG THÔN NÔNG NGHIỆP GIỮA KỲ NĂM 2020 - 30/06/2020
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NĂM 2019 - 11/04/2019
Ý kiến kết luận của chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Chính tại buổi làm việc với Cục Thống kê - 30/08/2018
Chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị về việc chuẩn bị Tổng điều tra Dân số nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019 trên địa bàn tỉnh - 23/08/2018
Lễ công bố quyết định thành lập Chi đoàn Cục Thống kê Quảng Trị - 14/12/2017
Quyết tâm tổ chức thực hiện thắng lợi cuộc Tổng điều tra kinh tế 2017 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị - 16/03/2017
Thông báo lịch thi tuyển CC và triệu tập thí sinh 2017 - 23/02/2017
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2014 - 05/03/2014
Hoạt động trong ngành tháng 1 năm 2014 - 23/01/2014
Hoạt động trong ngành tháng 12 năm 2013 - 02/01/2014
Hoạt động trong ngành tháng 10 năm 2013 - 01/11/2013
Hoạt động trong ngành tháng 9 năm 2013 - 02/10/2013
Hoạt động trong ngành tháng 8 năm 2013 - 03/09/2013
Hoạt động trong ngành tháng 7 năm 2013 - 01/08/2013
Hoạt động trong ngành tháng 6 năm 2013 - 01/07/2013
Hoạt động trong ngành tháng 5 năm 2013 - 05/06/2013
Hoạt động trong ngành tháng 4 năm 2013 - 07/05/2013
Hoạt động trong ngành tháng 3 năm 2013 - 02/04/2013
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2013 - 02/04/2013
Hoạt động trong ngành tháng 12 năm 2012 - 28/12/2012
Hoạt động trong ngành tháng 11 năm 2012 - 30/11/2012
Hoạt động trong ngành tháng 10 năm 2012 - 02/11/2012
Kỷ niệm ngày thống kê thế giới - 18/10/2012
Hoạt động trong ngành tháng 9 năm 2012 - 01/10/2012
Hội nghị công tác thống kê tổng hợp năm 2012 - 16/08/2012
Hoạt động trong ngành tháng 7 năm 2012 - 01/08/2012
Hoạt động trong ngành tháng 6 năm 2012 - 02/07/2012
Hội thảo góp ý Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia - 15/06/2012
Hoạt động trong ngành tháng 5 năm 2012 - 04/06/2012
Hoạt động trong ngành tháng 4 năm 2012 - 02/05/2012
Hoạt động trong ngành tháng 3 năm 2012 - 30/03/2012
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2012 - 02/03/2012
Hoạt động trong ngành tháng 1 năm 2012 - 03/02/2012
Báo cáo tổng kết công tác 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012 do Ông: Nguyễn Thanh Nghị - Phó cục trưởng trình bày tại Hội nghị tổng kết ngành năm 2011 - 17/01/2012
Báo cáo tổng kết công tác thi đua - khen thưởng năm 2011 do Ông: Trần Ánh Dương - Phó cục trưởng trình bày trước Hội nghị Tổng kết ngành - 17/01/2012
Bài phát biểu của đồng chí Đỗ Thức, Tổng cục trưởng, tại Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2012 của ngành Thống kê - 11/01/2012
Hoạt động trong ngành tháng 12 năm 2011 - 30/12/2011
Hội nghị công bố kết quả điều tra đánh giá tình hình trẻ em và phụ nữ 2010-2011 - 19/12/2011
Hoạt động trong ngành tháng 11 năm 2011 - 28/11/2011
Hoạt động trong ngành tháng 10 năm 2011 - 28/11/2011
Hoạt động trong ngành tháng 9 năm 2011 - 30/09/2011
Hoạt động trong ngành tháng 8 năm 2011 - 25/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 7 năm 2011 - 24/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 6 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 5 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 4 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 3 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 1 năm 2011 - 22/08/2011
Công báo chính phủ Tổng cục Thống kê Niên giám Thống kê Gửi báo cáo Thống kê
Mạng riêng của ngành dieu tra doanh nghiep 2024 Biểu chế độ báo cáo Cục Thống kê tỉnh năm 2013 Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị

TIẾNG KINH HỎI ĐÁP
ĐIỀU TRA 53 DT KTXH