Chỉ thị về việc tăng cường công tác Thống kê trên địa bàn tỉnh Quảng Trị - 16/09/2022    
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NĂM 2022 - 01/06/2022    
Tỉnh Quảng Trị ra quân Tổng điều tra Kinh tế năm 2021 giai đoạn 2 - 03/07/2021    
Ngành Thống kê 75 năm xây dựng và trưởng thành - 06/05/2021    
Xác định đúng nguồn lực mới thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng theo kế hoạch - 06/05/2021    
KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH THỐNG KÊ (06/5/1946-06/5/2021) - 25/04/2021    
TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2021 - 10/03/2021    
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 01 NĂM 2016 - 08/04/2016    
Hội nghị điển hình tiên tiến Ngành Thống kê năm 2015 - 18/04/2015    
Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2015 của Tổng cục Thống kê - 04/02/2015    
Kế hoạch công tác tháng 01 năm 2015 - 27/01/2015    
Kế hoạch công tác tháng 12 năm 2014 - 27/01/2015    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2014 - 12/11/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2014 - 01/10/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2014 - 27/08/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2014 - 23/07/2014    
Đoàn Công tác của Tổng cục Thống kê tại Vương quốc Campuchia - 21/07/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014 - 23/06/2014    
Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác chia sẻ thông tin giữa Tổng cục Thống kê và Ban Kinh tế Trung ương - 05/06/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2014 - 23/05/2014    
Trực tuyến: 142
Hôm nay: 95
Lượt truy cập: 1,128,765
TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI THÁNG 3 VÀ QUÝ I NĂM 2024
Cập nhật bản tin: 3/29/2024
            

 Tỉnh Quảng Trị thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức: Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột Nga-Ucraina, giao tranh ở khu vực Trung Đông diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực tới quá trình phục hồi kinh tế thế giới. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2024 được hầu hết các tổ chức quốc tế dự báo thấp hơn năm 2023, thương mại hàng hóa tăng trưởng yếu trong năm 2024, lạm phát tiếp tục xu hướng giảm về mức mục tiêu, điều kiện tài chính đã nới lỏng nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn yếu, thị trường lao động phục hồi nhưng không đồng đều…

Trong nước, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới biến động khó lường, không thuận lợi, nhưng kinh tế vĩ mô của nước ta tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp; cung cầu hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng nội địa duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế với mức tăng ổn định, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu trong nước và gia tăng xuất khẩu. Đầu tư công được đẩy mạnh, tốc độ tăng tỷ lệ giải ngân ở mức cao, an sinh xã hội được quan tâm kịp thời, hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn nên chịu tác động đan xen nhiều mặt.

Tại Quảng Trị, bước vào năm 2024 còn nhiều khó khăn, thách thức: doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, dễ tổn thương trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của thị trường trong và ngoài nước; sức mua trên địa bàn tỉnh hạn chế; nhu cầu đầu tư cho phát triển, nhất là kết cấu hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, ứng phó với biến đổi khí hậu rất lớn nhưng nguồn lực còn hạn hẹp; nhiều dự án trọng điểm của tỉnh chậm được triển khai làm chậm đà phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh…Ngay từ đầu năm 2024, UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt các sở, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Chương trình hành động của UBND tỉnh theo Quyết định số 50/QĐ-UBND về việc thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ; Kết luận số 497-KL/TU của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 99/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2024 tỉnh Quảng Trị đạt được những kết quả như sau:

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Tổng sản phẩm trên địa bàn quý I/2024 ước tính tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 6,16% của quý I/2023. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,41%, đóng góp 0,67 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 4,60%, đóng góp 1,23 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,16%, đóng góp 2,77 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 3,83%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,41% so với cùng kỳ năm trước, bằng mức tăng của quý I/2023. Ngành thuỷ sản có mức tăng trưởng cao nhất 8,90%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Quý I/2024, thời tiết ngư trường khá thuận lợi, các luồng cá, hải sản khác xuất hiện nhiều hơn; ngư dân tích cực bám biển khai thác nên sản lượng thuỷ sản quý I/2024 tăng 23,18%. Ngành nông nghiệp tăng 3,50%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm. Quý I/2024, thời tiết khá thuận lợi, các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt; sản phẩm trồng trọt thu hoạch chưa nhiều, các loại rau màu cho sản lượng khá; ngành chăn nuôi dịch bệnh được kiểm soát, công bố hết dịch tả lợn Châu Phi trước Tết Nguyên đán; sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 3,97% so với cùng kỳ năm trước. Ngành lâm nghiệp tăng 3,36%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm. Quý I/2024, thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ chưa thoát khỏi khó khăn đã ảnh hưởng đến tình hình khai thác gỗ và trồng rừng tập trung nên tốc độ tăng trưởng thấp.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,60% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng 8,44% của quý I/2023. Ngành xây dựng tăng 6,21%, đóng góp 0,68 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Trong quý I/2024, ngành xây dựng đã có dấu hiệu phục hồi do lãi suất cho vay của ngân hàng giảm ở mức hợp lý, doanh nghiệp và người dân dễ tiếp cận nguồn vốn ngân hàng hơn, giá vật liệu xây dựng tương đối ổn định, thị trường bất động sản đã ấm dần lên…Ngành công nghiệp tăng 3,49%, đóng góp 0,55 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Trong ngành công nghiệp, động lực tăng trưởng chủ yếu vẫn là ngành sản xuất và phân phối điện nhưng chỉ tăng 5,06%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm do không có dự án điện hoàn thành đi vào vận hành thương mại; các dự án điện trước đây đã hoạt động với công suất ổn định. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ tăng 1,94%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong những năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng đã chững lại do thu hút đầu tư vào ngành này còn hạn chế, đang gặp khó khăn về nguyên vật liệu đầu vào và đơn hàng tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải rác quy mô nhỏ, mặc dù tăng 10,14%, nhưng chỉ đóng góp 0,04 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng do công tác quản lý về khai thác khoáng sản ngày càng chặt chẽ, nguồn quặng ngày càng hạn chế nên chỉ tăng 3,09%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ tăng 5,16%, thấp hơn mức tăng 5,62% của quý I/2023; nguyên ngân chủ yếu do sức mua trên thị trường giảm, thói quen tiêu dùng của người dân thận trọng hơn sau dịch COVID-19; chi ngân sách cho các ngành chặt chẽ, tiết kiệm hơn. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung: bán buôn, bán lẽ tăng 7,16%, đóng góp 0,84 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,37%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 7,13%, đóng góp 0,21 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 1,95%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 4,47%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm…Các ngành dịch vụ phi thị trường như: hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng tăng 6,90%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; giáo dục đào tạo tăng 4,49%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 3,13%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm…

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

 

 

So với cùng kỳ năm trước

(%)

Đóng góp vào tăng trưởng quý I năm 2024 (Điểm %)

Quý I

năm 2023

Quý I

năm 2024

Tổng sản phẩm trên địa bàn

106,16

104,84

4,84

- Nông, lâm nghiệp và thủy sản

104,41

104,41

0,67

- Công nghiệp và xây dựng

108,44

104,60

1,23

- Dịch vụ

105,62

105,16

2,77

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp SP

106,30

103,83

0,17

Về cơ cấu kinh tế quý I/2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,66%; khu vực dịch vụ chiếm 48,34%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,17% (cơ cấu tương ứng của quý I/2023 là: 15,11%; 33,12%; 47,53%; 4,24%).

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông nghiệp quý I/2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát; tổng đàn lợn tăng khá sau dịch tả lợn Châu Phi. Sản xuất lâm nghiệp đẩy mạnh công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, thu hoạch gỗ đến kỳ khai thác; tuy nhiên, do xuất khẩu sản phẩm gỗ gặp khó khăn nên sản lượng gỗ khai thác giảm. Ngành thủy sản thời tiết thuận lợi, ngư dân tích cực bám biển khai thác thuỷ sản nên sản lượng thuỷ sản tăng khá so với cùng kỳ năm trước.Công tác chống khai thác IUU được đẩy mạnh…

1.1. Nông nghiệp

a. Trồng trọt

* Tiến độ sản xuất cây hàng năm vụ Đông Xuân 2023-2024

Đến ngày 15/3/2024, cây lúa gieo cấy 26.143,7 ha, bằng 99,93% cùng kỳ năm trước; các giống chủ lực gồm: ĐD2, HN6, HC95, Dự Hương 8, Đài thơm 8, Khang dân 18, Hà Phát 3, VNR20, HG12...Cây ngô gieo trồng 3.200,8 ha, bằng 98,98%; khoai lang 1.026,1 ha, bằng 102,56%; sắn 9.484,5 ha, bằng 102,32%; lạc 2.866,7 ha, bằng 98,82%; rau các loại 3.582,4 ha, bằng 100,38%; đậu các loại 543,4 ha, bằng 93,37%; cây ớt cay 400,1 ha, bằng 104,33%...Hiện nay, cây lúa trà đầu đang giai đoạn nuôi đòng, trà chính vụ đang ở giai đoạn phân hóa đòng (làm đòng), các địa phương đã tiến hành bón phân thúc đòng; cây ngô đang ở giai đoạn 7-9 lá, trổ cờ phun râu; cây lạc đang ở giai đoạn ra hoa, đâm tỉa. Vụ Đông Xuân năm nay thời tiết khá thuận lợi, các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt.  

Tình hình dịch bệnh trên cây hàng năm vụ Đông Xuân:

Trên cây lúa, chuột gây hại ở hầu hết các địa phương, diện tích nhiễm 1.046 ha, trong đó nhiễm nặng 39 ha, tỷ lệ hại phổ biến 5 - 10%, nơi cao 20 - 22%; bệnh đạo ôn lá phát sinh gây hại nhiều nơi, diện tích nhiễm 642 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 5 -15%, nơi cao trên 50%; ngoài ra, rầy các loại, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh rải rác. Trên cây ngô, sâu keo mùa thu, diện tích nhiễm 23 ha, mật độ phổ biến 1-4 con/m2, nơi cao 5 - 6 con/m2. Trên cây lạc, sâu ăn lá gây hại rải rác. Trên cây sắn, bệnh khảm lá virus gây hại nhiều nơi do người dân sử dụng hom giống bị bệnh để trồng mới, diện tích nhiễm 695 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 5-10%. Trên cây rau màu các loại, các đối tượng sâu bệnh gây hại chủ yếu: sâu tơ, bọ nhảy hại cải, khô đầu lá…

Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm chủ yếu 

                                                                                                         

Ước thực hiện đến ngày 15/3/2024 (Ha)

Ước thực hiện đến 15/3/2024 so với cùng kỳ năm trước (%)

- Lúa

26.143,7

99,93

- Ngô

3.200,8

98,98

- Khoai lang

1.026,1

102,56

- Sắn (khoai mì)

9.484,5

102,32

- Lạc

2.866,7

98,82

- Rau các loại

3.582,4

100,38

- Đậu các loại

543,4

 93,37

- Cây ớt cay

400,1

104,33

 

b. Chăn nuôi

Ước tính đến 31/3/2024, đàn trâu có 21.260 con, tăng 0,06% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 62.043 con, tăng 5,97%; đàn lợn thịt có 201.928 con, tăng 19,51%; đàn gia cầm có 3.922 nghìn con, tăng 2,66%; trong đó: đàn gà 3.310 nghìn con, tăng 3,02%...Chăn nuôi phát triển ổn định; đàn trâu, bò quy mô nhỏ, không có biến động lớn; đàn lợn tăng khá sau dịch tả lợn Châu Phi. Công tác phòng, chống dịch bệnh được quan tâm thực hiện theo đúng quy định. Hiện nay, giá con giống, thức ăn chăn nuôi, vật tư đầu vào đang ở mức cao; vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ tái phát các ổ dịch nguy hiểm trên gia súc, gia cầm ảnh hưởng đến công tác tái đàn và tăng quy mô tổng đàn.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 3/2024 ước tính đạt 5.035,9 tấn, tăng 6,08% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, thịt trâu 65 tấn, tăng 4,84%; thịt bò 280 tấn, tăng 1,82%; thịt lợn 3.189 tấn, tăng 3,39%; thịt gia cầm 1.501,9 tấn, tăng 13,26%. Sản lượng trứng gia cầm 4.168,8 nghìn quả, tăng 41,29%. Tính chung quý I/2024, sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 16.084,4 tấn, tăng 3,97% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu 228 tấn, tăng 3,64%; thịt bò 856 tấn, tăng 1,06%; thịt lợn 9.988,6 tấn, tăng 1,38%; thịt gia cầm 4.804,9 tấn, tăng 10,91%. Sản lượng trứng gia cầm 12.639,6 nghìn quả, tăng 6,95%. Tỉnh Quảng Trị được công bố hết bệnh dịch tả lợn Châu Phi trước Tết Nguyên đán Giáp Thìn, giúp người chăn nuôi thuận lợi trong tiêu thụ lợn và các sản phẩm từ thịt lợn. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong Quý I/2024 cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu trên địa bàn tỉnh, nhất là phục vụ Tết Nguyên đán.

Tình hình dịch bệnh: Từ tháng 02/2024 đến nay, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát tốt, toàn tỉnh đã và đang chủ động triển khai các hoạt động phòng, chống và giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh. Tính đến ngày 14/3/2024, toàn tỉnh tiêm được 1.540 liều vắc xin lợn, 30 liều vắc xin Dại chó, 10 liều vắc xin THT trâu bò và  47.000 liều vắc xin Cúm gia cầm.

 

Sản phẩm chăn nuôi

 

 

Ước

tháng 3/2024

 

Ước

Quý I/2024

 

So với cùng kỳ năm 2023 (%)

Tháng 3/2024

Quý I/2024

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (Tấn)

5.035,9

16.084,4

106,08

103,97

- Thịt trâu

65,0

228,0

104,84

103,64

- Thịt bò

280,0

856,0

101,82

101,06

- Thịt lợn

3.189,0

9.988,6

103,39

101,38

- Thịt gia cầm

1.501,9

4.804,9

113,26

110,91

Sản lượng trứng gia cầm (Nghìn quả)

4.168,8

12.639,6

141,29

106,95

1.2. Lâm  nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp quý I/2024, các đơn vị và cá nhân tranh thủ thời tiết thuận lợi tiếp tục trồng rừng theo kế hoạch, tập trung chăm sóc rừng trồng, tổ chức “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Giáp Thìn và Tiếp tục thực hiện Đề án trồng 1 tỉ cây xanh giai đoạn 2021- 2025 của Chính phủ. Do thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ gặp khó khăn chưa có dấu hiệu khởi sắc nên tình hình khai thác gỗ giảm so với cùng kỳ năm trước.

Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 3/2024 ước tính đạt 808,2 ha, giảm 0,13% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 480 nghìn cây, giảm 17,67%; sản lượng gỗ khai thác 112.052 m3, tăng 7,87%; sản lượng củi khai thác 13.000 ster, tăng 1,25%. Tính chung quý I/2024, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 1.320 ha, giảm 12,50% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 750 nghìn cây, giảm 16,48%; sản lượng gỗ khai thác 210.706 m3, giảm 9,18%; củi khai thác 29.120 ster, tăng 1,76%. Diện tích rừng trồng mới tập trung quý I/2024 giảm so với cùng kỳ năm trước do một số diện tích rừng đã đến kỳ khai thác nhưng tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ gặp khó khăn nên người dân chưa khai thác để trồng lại.

Trong Quý I/2024, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Phát hiện lập biên bản 17 vụ vi phạm, xử lý vi phạm hành chính 18 vụ, phạt tiền 286,75 triệu đồng, tịch thu 24,413 m3 gỗ quy tròn các loại.

 

Trồng rừng và khai thác lâm sản

 

Ước  tháng 3/2024

 

Ước quý I/2024

 

So với cùng kỳ năm 2023 (%)

Tháng 3/2024

Quý I/2024

1. Trồng rừng tập trung (Ha)

808,2

1.320,0

99,87

87,50

2. Số cây LN trồng phân tán (1000 cây)

480,0

750,0

82,33

83,52

3. Sản lượng gỗ khai thác (M3)

112.052,0

210.706,0

107,87

90,82

4. Sản lượng củi khai thác (Ster)

13.000,0

29.120,0

101,25

101,76

 

1.3. Thủy sản

Quý I/2024, thời tiết khá thuận lợi nên nhiều luồng cá xuất hiện hơn như: cá bè, cá sòng, cá thu, cá cơm, cá trích...; ngư dân tích cực bám biển khai thác nên sản lượng thuỷ sản khai thác tăng khá cao. Nuôi trồng thuỷ sản quy mô nhỏ, sản lượng không lớn và tương đối ổn định.

Sản lượng thủy sản tháng 3/2024 ước tính đạt 3.872,5 tấn, tăng 1,91% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá 2.428 tấn, tăng 0,72%; tôm 568,2 tấn, tăng 1,22%; thủy sản khác 876,3 tấn, tăng 5,83%. Tính chung quý I/2024, sản lượng thủy sản ước tính đạt 8.805,8 tấn, tăng 23,18% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá 5.827,5 tấn, tăng 33,32%; tôm 1.258,3 tấn, tăng 3,23%; thủy sản khác 1.720 tấn, tăng 10,32%. Cụ thể sản lượng nuôi trồng và khai thác như sau:  

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 3/2024 ước tính đạt 953,8 tấn, tăng 0,02% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 409 tấn, tăng 0,07%; tôm 542,5 tấn, bằng cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2024, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 1.926,3 tấn, tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 704,5 tấn, giảm 0,27%; tôm 1.178,8 tấn, tăng 1,64%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 3/2024 ước tính đạt 2.918,7 tấn, tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 2.019 tấn, tăng 0,85%; thủy sản khác 874 tấn, tăng 5,87%. Tính chung quý I/2024, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 6.879,5 tấn, tăng 31,24% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 5.123 tấn, tăng 39,80%; thủy sản khác 1.677 tấn, tăng 10,46%.

 

 

Sản lượng thủy sản

 

Ước tháng 3/2024

(Tấn)

Ước

Quý I/2024

(Tấn)

So với cùng kỳ năm 2023 (%)

Tháng 3/2024

Quý I/2024

Tổng sản lượng thủy sản

3.872,5

8.805,8

101,91

123,18

1. Chia theo loại thủy sản

 

 

 

 

- Cá

2.428,0

5.827,5

100,72

133,32

- Tôm

568,2

1.258,3

101,22

103,23

- Thủy sản khác

876,3

1.720,0

105,83

110,32

2. Chia theo nuôi trồng, khai thác

 

 

 

 

- Nuôi trồng

953,8

1.926,3

100,02

101,01

- Khai thác

2.918,7

6.879,5

102,54

131,24

 

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Ba tăng trưởng khá so với tháng trước và cùng kỳ năm trước do số ngày làm việc thực tế tháng Ba nhiều hơn tháng trước (tháng Hai trùng với Tết Nguyên đán), đơn hàng tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài  nước đã ấm dần lên…Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2024 tăng 24,03% so với tháng trước và tăng 10,65% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2024, chỉ  số sản xuất công nghiệp chỉ tăng 1,56% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng thấp nhất từ trước đến nay; nguyên nhân chủ yếu là do ngành điện sản xuất ổn định, không có dự án hoàn thành đi vào hoạt động trong quý; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng thấp do khó khăn về nguyên vật liệu đầu vào và đơn hàng tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước trong những tháng đầu năm.

 Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2024 ước tính tăng 24,03% so với tháng trước và tăng 10,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành khai khoáng tăng 27,47% và tăng 4,70%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 36,33% và tăng 10,87%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,21% và tăng 11,24%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,16% và tăng 9,79%.

Tính chung quý I/2024, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 1,56% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: ngành khai khoáng tăng 3,09%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,34%; sản xuất và phân phối điện tăng 3,41%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,35%. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2024 tăng trưởng thấp do trong những năm vừa qua ngành sản xuất điện luôn là động lực tăng trưởng chủ yếu nhưng trong quý Một năm nay không có dự án điện hoàn thành đi vào hoạt động nên chỉ sản xuất với sản lượng ổn định; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn chưa thoát khỏi khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng, giá thành sản xuất cao, khả năng cạnh tranh thấp…

Trong ngành công nghiệp cấp 2, các ngành có chỉ số sản xuất quý I/2024 so với cùng kỳ năm trước tăng cao hơn chỉ số chung là: sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 39,94%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 20,19%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 19,89%; sản xuất đồ uống tăng 16,12%;   in, sao chép bản ghi các loại tăng 10,02%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 8,11%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 4,85%; khai thác quặng kim loại tăng 4,48%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 3,86%; sản xuất và phân phối điện tăng 3,41%. Ở chiều ngược lại, các ngành có chỉ số sản xuất giảm: khai khoáng khác giảm 0,56%; sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 4,21%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 8,12%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 11,88%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 13%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 22,39%; sản xuất da và sản phẩm có liên quan giảm 27,96%; dệt giảm 30,81%.     

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp

                                                                                                         

Tháng 3/2024 so với tháng 02/2024

(%)

Tháng 3/2024 so với cùng kỳ năm trước (%)

Quý I/2024 so với cùng kỳ năm trước (%)

Toàn ngành công nghiệp

124,03

110,65

101,56

- Khai khoáng

127,47

104,70

103,09

- Công nghiệp chế biến, chế tạo

136,33

110,87

100,34

- Sản xuất và phân phối điện

106,21

111,24

103,41

- Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

94,84

109,79

107,35

 

Một số sản phẩm chủ yếu trong quý I/2024 so với cùng kỳ năm trước tăng cao: bia lon tăng 22,64%; phân hóa học tăng 15,71%...Một số sản phẩm tăng thấp: gạch khối bằng bê tông tăng 8,83%; điện thương phẩm tăng 5,56%; nước máy tăng 4,85%; tinh bột sắn tăng 3,64%; săm dùng cho xe máy, xe đạp tăng 2,10%;            điện sản xuất tăng 1,79%...Một số sản phẩm giảm: com lê, quần áo giảm 0,27%;     dăm gỗ giảm 0,89%; lốp dùng cho xe máy, xe đạp giảm 6,63%; đá xây dựng giảm 6,70%; dầu nhựa thông giảm 9,15%; nước hoa quả, tăng lực giảm 10,34%; xi măng giảm 11,32%; ván ép giảm 13,23%; gỗ cưa hoặc xẻ giảm 17,25%; thủy hải sản chế biến giảm 18,21%; tấm lợp pro xi măng giảm 34,11%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 46,65%...

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2024 tăng 0,34% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1,89% so với cùng thời điểm năm trước. So với cùng thời điểm năm trước, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,36%, doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 3,17%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 1,72%. Xét theo ngành hoạt động, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,94% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,12%; sản xuất và phân phối điện giảm 1,82%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải  tăng 1,59%. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp giảm  so với cùng thời điểm năm trước là do một số doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gặp khó khăn trong khâu tiêu sản phẩm nên cắt giảm lao động.

3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Quý I/2024, mặc dù các cấp, các ngành đã tập trung tháo gở khó khăn cho doanh nghiệp, nhưng những khó khăn nội tại của doanh nghiệp tại Quảng Trị quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh thấp trong điều kiện nhu cầu thị trường trong nước và thế giới suy giảm…là những thách thức đối với hoạt động của doanh nghiệp hiện nay. Số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động từ đầu năm đến 15/3/2024 giảm 14,05% nhưng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể tăng 32,95% so với cùng kỳ năm trước.

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư, từ đầu năm đến 15/3/2024, toàn tỉnh có 79 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 33,61% (-40 DN) so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 318,90 tỷ đồng, giảm 74,13%; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 4,04 tỷ đồng, giảm 61,03%. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 218 doanh nghiệp, tăng 37,11% (+59 DN) so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp giải thể là 16 doanh nghiệp, giảm 5,88% (-01 DN); số doanh nghiệp trở lại hoạt động là 74 doanh nghiệp, tăng 25,42% (+15 DN). Số doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ thuộc các ngành xây dựng, thương mại…kinh doanh kém hiệu quả…

Trong số doanh nghiệp thành lập mới quý I/2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản không có doanh nghiệp nào; khu vực công nghiệp xây dựng có 28 doanh nghiệp, chiếm 35,44% và giảm 39,13% so với cùng kỳ năm trước; khu vực dịch vụ có 51 doanh nghiệp, chiếm 64,56% và giảm 30,14%.

4. Hoạt động dịch vụ

4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 3/2024, sau Tết Nguyên đán thị trường bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trở lại bình thường; các nhóm hàng hoá phục vụ Tết doanh thu giảm nên tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 1,98% so với tháng trước và chỉ tăng 2,81% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2024, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,02% (quý I/2023 tăng 10,71%). Kết quả này cho thấy quý I/2024 sức mua trên thị trường giảm sút, thói quen chi tiêu của người tiêu dùng đã thay đổi theo hướng tiết kiện hơn sau dịch COVID-19.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2024 ước tính đạt 2.668,75 tỷ đồng, giảm 1,98% so với tháng trước và tăng 2,81% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu bán lẻ hàng hóa 2.143,47 tỷ đồng, giảm 3,19% và tăng 2,43%; doanh thu lưu trú và ăn uống 389,75 tỷ đồng, tăng 4,56% và tăng 4,65%; doanh thu du lịch lữ hành 0,2 tỷ đồng, giảm 11,11% so với tháng trước, cùng kỳ năm trước không phát sinh doanh thu; doanh thu dịch vụ khác 135,33 tỷ đồng, giảm 0,25% và tăng 3,56%.

Tính chung quý I/2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 8.127,05 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 6.570,12 tỷ đồng, chiếm 80,84% tổng mức và tăng 10,01% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng có tổng mức bán lẻ hàng hóa lớn và tăng khá như: ô tô các loại tăng 35,20%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 17,45%; lương thực, thực phẩm tăng 16,38%...    

Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước tính đạt 1.148,58 tỷ đồng, chiếm 14,13% tổng mức và tăng 9,18% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu dịch vụ lưu trú 58,69 tỷ đồng, tăng 17,31%; doanh thu dịch vụ ăn uống 1.089,89 tỷ đồng, tăng 8,79%.

Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 0,58 tỷ đồng, tăng 188,94% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 407,77 tỷ đồng, chiếm 5,02% tổng mức và tăng 4,28% so với cùng kỳ năm trước

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

 

Ước tháng 3/2024

( Tỷ đồng)

Ước quý

I/2024

So với cùng kỳ năm trước

(%)

Tổng mức

(Tỷ đồng)

Cơ cấu

(%)

Tháng 3/2024

Quý

I/2024

Tổng số

2.668,75

8.127,05

100,00

102,81

109,59

- Bán lẻ hàng hóa

2.143,47

6.570,12

80,84

102,43

110,01

- Lưu trú và ăn uống

389,75

1.148,58

14,13

104,65

109,18

- Du lịch lữ hành

0,20

0,58

0,01

-

288,94

- Dịch vụ khác

135,33

407,77

5,02

103,58

104,28

 

* Khách lưu trú và du lịch lữ hành

Số lượt khách lưu trú tháng 3/2024 ước tính đạt 75.626 lượt, tăng 6,59% so với tháng trước và giảm 12,32% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú (chỉ tính khách ngũ qua đêm) 74.125 ngày khách, tăng 3,26% và tăng 13,36%; số lượt khách du lịch theo tour ước tính đạt 40 lượt khách, giảm 48,05% so với tháng trước; số ngày khách du lịch theo tour 160 ngày khách, giảm 41,82% (tháng 3/2023 du lịch theo tour không phát sinh).

Tính chung quý I/2024, số lượt khách lưu trú ước tính đạt 215.868 lượt, tăng 3,74% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú 213.100 ngày khách, tăng 12,62%; số lượt khách du lịch theo tour 165 lượt khách, tăng 312,50%; số ngày khách du lịch theo tour 673 ngày khách, tăng 236,50%.

4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải trong tháng Ba và quý I/2024 tăng trưởng khá cả về vận tải hành khách và hàng hoá so với cùng kỳ năm trước do các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng có những chuyển biến tích cực, thời tiết khá thuận lợi…nhu cầu vận tải tăng lên. Ước tính tháng 3/2024, hành khách vận chuyển tăng 5,15%, hành khách luân chuyển tăng 6,44%; hàng hoá vận chuyển tăng 7,78%, hàng hoá luân chuyển tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2024, hành khách vận chuyển tăng 6,44%, hành khách luân chuyển tăng 7,52%; hàng hoá vận chuyển tăng 6,10%, hàng hoá luân chuyển tăng 7,21% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2023 là +6,21%, +6,17%, +5,06%, +6,17%).  

Doanh thu vận tải tháng 3/2024 ước tính đạt 201,38 tỷ đồng, tăng 0,38% so với tháng trước và tăng 10,51% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu vận tải hành khách 24,70 tỷ đồng, giảm 2,77% và tăng 10,90%; doanh thu vận tải hàng hóa 143,84 tỷ đồng, tăng 1,24% và tăng 10,50%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 32,84 tỷ đồng, giảm 0,90% và tăng 10,26%. Tính chung quý I/2024, doanh thu vận tải ước tính đạt 598,94 tỷ đồng, tăng 9,47% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu vận tải hành khách 73,81 tỷ đồng, tăng 10,64%; doanh thu vận tải hàng hóa 427,96 tỷ đồng, tăng 9,39%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 97,17 tỷ đồng, tăng 8,94%.

Số lượt hành khách vận chuyển tháng 3/2024 ước tính đạt 673,05 nghìn HK, giảm 1,93% so với tháng trước và tăng 5,15% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 58.761,81 nghìn HK.km, giảm 2,46% và tăng 6,44%. Tính chung quý I/2024, số lượt hành khách vận chuyển ước tính đạt 2.030,88 nghìn HK, tăng 6,44% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 177.588,29 nghìn HK.km, tăng 7,52%.

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 3/2024 ước tính đạt 1.136,04 nghìn tấn, tăng 1,31% so với tháng trước và tăng 7,78% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 78.996,17 nghìn tấn.km, tăng 1,16% và tăng 9,01%. Tính chung quý I/2024, khối lượng hàng hoá vận chuyển ước tính đạt 3.360,73 nghìn tấn, tăng 6,10% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 234.043,64 nghìn tấn.km, tăng 7,21%.

 

Vận tải hành khách và hàng hóa

 

 

Ước tháng 3/2024

 

Ước quý I/2024

 

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 3/2024

Quý

I/2024

1. Vận tải hành khách

 

 

 

 

 

 

 

 

- Vận chuyển (Nghìn HK)

673,05

2.030,88

105,15

106,44

- Luân chuyển (Nghìn HK.Km)

58.761,81

177.588,29

106,44

107,52

2. Vận tải hàng hóa

 

 

 

 

- Vận chuyển (Nghìn tấn)

1.136,04

3.360,73

107,78

106,10

- Luân chuyển (Nghìn tấn.Km)

78.996,17

234.043,64

109,01

107,21

4.3. Hoạt động bưu chính, viễn thông

Hoạt động bưu chính, viễn thông phát triển ổn định. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông đa dạng hóa các gói dịch vụ, nâng cấp băng thông cho thiết bị di động…phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng; các doanh nghiệp bưu chính bảo đảm an toàn, an ninh trong chuyển phát, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi lợi dụng hệ thống bưu chính để chuyển hàng lậu, hàng cấm, hàng vi phạm pháp luật; các doanh nghiệp viễn thông nhắn tin để tuyên truyền, cảnh báo phương thức, thủ đoạn của các loại tội phạm đến người dân trên địa bàn tỉnh.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 213 điểm cung cấp dịch vụ bưu chính, trong đó có: 89 bưu cục cấp 1, 2, 3 và điểm phục vụ, khách hàng lớn; có 114/125 xã, phường có điểm BĐ-VHX; 10 điểm phục vụ hình thức khác (07 kho bưu chính, 03 thùng thư công cộng độc lập). Có 113/125 xã, phường, thị trấn và 9/10 huyện, thị xã, thành phố có báo đến trong ngày (huyện đảo Cồn Cỏ chưa có). Bán kính phục vụ bình quân 2,381 km/1 điểm phục vụ; số dân được phục vụ 3.018 người/1 điểm phục vụ.

Tổng số trạm thu phát sóng điện thoại di động (BTS) là 2.691 trạm (755 trạm 2G, 751 trạm 3G, 1.185 trạm 4G).

Ước tính đến 31/3/2024, toàn tỉnh có 681.417 thuê bao điện thoại, tăng 0,01% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó có 6.275 thuê bao cố định, giảm 7,% và 675.142 thuê bao di động, tăng 0,08%. Số thuê bao Internet hiện có là 687.363 thuê bao, tăng 8,35% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó có 132.488 thuê bao cố định, tăng 8,63% và 554.875 thuê bao di động, tăng 8,29%.

Mật độ thuê bao điện thoại/100 dân là 109,2 thuê bao, Mật độ thuê bao Internet/100 dân là 20,3 thuê bao.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng

Quý I/2024, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có xu hướng giảm. Các tổ chức tín dụng triển khai nhiều chính sách hiệu quả nên nguồn vốn huy động trên địa bàn tăng trưởng khá; riêng hoạt động cho vay mặc dù đã triển khai nhiều giải pháp bảo đảm cung ứng tín dụng cho nền kinh tế nhưng do hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều khó khăn nên tăng trưởng tín dụng âm. Đến 29/02/2024, huy động vốn trên địa bàn tăng 1,17%, tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế giảm 0,91% so với cuối năm 2023.

Huy động vốn trên địa bàn đến 29/02/2024 đạt 36.863 tỷ đồng, tăng 1,17% (+426 tỷ đồng) so với cuối năm 2023; bao gồm: tiền gửi tiết kiệm 26.648 tỷ đồng,  tăng 5,20% (+1.316 tỷ đồng); tiền gửi có kỳ hạn của các TCKT 3.228 tỷ đồng, giảm 10,43% (-376 tỷ đồng); tiền gửi thanh toán 6.412 tỷ đồng, giảm 7,87% (-548 tỷ đồng); huy động khác 304 tỷ đồng, tăng 10,96% (+30 tỷ đồng); phát hành giấy tờ có giá 271 tỷ đồng, tăng 1,41% (+4 tỷ đồng). Ước tính đến 31/3/2024, huy động vốn trên địa bàn ước tính đạt 37.000 tỷ đồng, tăng 1,54% so với cuối năm 2023.  

Tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đến 29/02/2024 đạt 51.140 tỷ đồng, giảm 0,91% (-468 tỷ đồng) so với cuối năm 2023; bao gồm: dư nợ cho vay ngắn hạn 25.278 tỷ đồng, chiếm 49,93% tổng dư nợ, giảm 1% (-256 tỷ đồng); dư nợ cho vay trung và dài hạn 25.862 tỷ đồng, chiếm 50,57%, giảm 0,81% (-212 tỷ đồng). Ước tính đến 31/3/2024, tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đạt 51.700 tỷ đồng, tăng 0,17% so với cuối năm 2023.

Nợ xấu đến 29/02/2024 là 589 tỷ đồng, chiếm 1,15% tổng dư nợ, tăng 38% (+162 tỷ đồng) so với cuối năm 2023. Ước tính đến 31/3/2024, nợ xấu là 620 tỷ đồng, chiếm 1,2% tổng dư nợ.

2. Thu, chi ngân sách nhà nước

Quý I/2024, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt thấp so với dự toán; tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước đã có chuyển biến theo chiều hướng tích cực.  Chi ngân sách Nhà nước đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước trên tinh thần chặt chẽ, tiết kiệm, linh hoạt…Thu ngân sách trên địa bàn từ đầu năm đến 15/3/2024 đạt 18,28% dự toán và tăng 7,75% so với cùng kỳ năm trước; chi ngân sách nhà nước địa phương bằng 30,5% dự toán và giảm 3%.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến ngày 15/3/2024 đạt 713,18 tỷ đồng, bằng 18,28% dự toán địa phương và tăng 7,75% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thu nội địa 557,57 tỷ đồng, bằng 18,89% dự toán và tăng 7,63%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 155,07 tỷ đồng, bằng 16,32% dự toán và tăng 7,93%. Trong thu nội địa, một số khoản thu lớn như: thu ngoài quốc doanh 250,10 tỷ đồng, tăng 17,62% so với cùng kỳ năm trước; thu tiền sử dụng đất 70,84 tỷ đồng, tăng 40,72%; thu từ doanh nghiệp nhà nước 48,18 tỷ đồng, tăng 7,32%;    thuế thu nhập cá nhân 41,02 tỷ đồng, giảm 0,52%; thuế bảo vệ môi trường 32,94 tỷ đồng, giảm 11,87%; thu phí và lệ phí 30,20 tỷ đồng, tăng 55,05%; lệ phí trước bạ 29,67 tỷ đồng, giảm 9,37%...

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 15/3/2024 đạt 2.862,91 tỷ đồng, bằng 30,5% dự toán địa phương và giảm 3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: chi đầu tư phát triển 181,30 tỷ đồng, bằng 13,1% dự toán và tăng 67%; chi thường xuyên 1.189,89 tỷ đồng, bằng 19,7% dự toán và tăng 19%. Trong chi thường xuyên, một số khoản chi lớn như: chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề 608,63 tỷ đồng, tăng 23,06% so với cùng kỳ năm trước; chi quản lý hành chính 306,75 tỷ đồng, tăng 18,8%; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội 84,63 tỷ đồng, giảm 2,2%; chi sự nghiệp y tế, dân số và KHH gia đình 53,48 tỷ đồng, tăng 32,5%; chi sự nghiệp kinh tế 43,44 tỷ đồng, tăng 29,2%...

 

Thu, chi ngân sách nhà nước

 

Thực hiện đến 15/3/2024

( Tỷ đồng)

Thực hiện đến 15/3/2024 so với dự toán ĐP 2024 (%)

Thực hiện đến 15/3/2024 so với cùng kỳ năm trước (%)

1. Tổng thu NSNN trên địa bàn

713,18

18,28

107,75

TĐ: - Thu nội địa

557,57

18,89

107,63

       - Thu từ hoạt động XNK

155,07

16,32

107,93

2. Tổng chi NSNN địa phương

2.862,91

30,50

97,00

TĐ: - Chi đầu tư phát triển

181,30

13,10

167,00

       - Chi thường xuyên

1.189,89

19,70

119,00

3. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2024 (giá hiện hành) ước tính tăng 6,17% so với cùng kỳ năm trước (Quý I/2023 giảm 6,53%), trong đó: vốn khu vực nhà nước giảm 12,27% do kế hoạch giao vốn năm 2024 thấp hơn năm 2023, vốn ODA giảm nhiều; vốn đầu tư khu vực dân cư và tư nhân tăng 8,64% do lãi suất cho vay của ngân hàng giảm, nhà nước tháo gỡ khó khăn giúp doanh nghiệp và người dân dễ tiếp cận nguồn vốn hơn, giá vật liệu xây dựng tương đối ổn định…

Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn quý I/2024 (giá hiện hành) ước tính đạt 4.378,32 tỷ đồng, tăng 6,17% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: vốn khu vực nhà nước 638,47 tỷ đồng, chiếm 14,58% tổng vốn và giảm 12,27% so với cùng kỳ năm trước; vốn của dân cư và tư nhân 3.653,36 tỷ đồng, chiếm 83,44% và tăng 8,64%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 86,49 tỷ đồng, chiếm 1,98% và tăng 158,72%.

Trong vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn quý I/2024, vốn đầu tư xây dựng cơ bản 3.573,83 tỷ đồng, tăng 22,08% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư mua sắm TSCĐ không qua xây dựng cơ bản 332,43 tỷ đồng, giảm 50,01%; vốn đầu tư nâng cấp, sửa chửa lớn TSCĐ 466,37 tỷ đồng, giảm 2,84%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 5,69 tỷ đồng, giảm 88,98%.

Trong tổng vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước quý I/2024, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính đạt 278,77 tỷ đồng, bằng 10,73% kế hoạch năm 2024 và giảm 27,04% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 188,55 tỷ đồng, bằng 10,48% kế hoạch và giảm 37,70%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 87,75 tỷ đồng, bằng 12% kế hoạch và tăng 18,82%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 2,47 tỷ đồng, bằng 3,64% kế hoạch và giảm 55,87%. Tình hình thực hiện vốn đầu tư  thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý I/2024 giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước do kế hoạch vốn phân bổ năm 2024 chỉ bằng 75,16% so với kế hoạch vốn năm 2023, thị trường bất động sản đã ấm dần lên nhưng nguồn thu từ quỹ sử dụng đất vẫn đang gặp khó khăn…

 

Vốn đầu tư phát triển thực hiện trên địa bàn

 

Ước thực hiện

quý I/2024

(Tỷ đồng)

Ước thực hiện

quý I/2024 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng số

4.378,32

106,17

- Vốn khu vực nhà nước

638,47

87,73

- Vốn của dân cư và tư nhân

3.653,36

108,64

- Vốn đầu tư trực tiếp NN

86,49

258,72

Tình hình thu hút vốn đầu tư: Từ đầu năm đến 15/3/2024, trên địa bàn tỉnh có 07 dự án được cấp quyết định chủ trương đầu tư/GCN đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký là 1.751,86 tỷ đồng.

Vốn FDI: Quý I/2024, không có dự án FDI đăng ký đầu tư mới. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 21 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 2.536,87 triệu USD. Ước tính vốn thực hiện của các dự án đầu tư nước ngoài quý I/2024 là 3,62 triệu USD, tăng 154,93% so với cùng kỳ năm trước.

Về tiến độ giải ngân vốn: Tình hình giải ngân vốn đầu tư những tháng đầu năm còn chậm. Tính đến 29/02/2024, Kho bạc Nhà nước tỉnh giải ngân 143,63 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương do tỉnh quản lý, chỉ đạt 6,1% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao năm 2024.

4. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Tháng 3/2024, giá xăng dầu điều chỉnh giảm; giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống, giá đồ uống, thuốc lá…giảm sau Tết Nguyên đán…làm cho chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,90% so với tháng trước. Tính chung quý I/2024, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2023 tăng 5,13%); nguyên nhân chủ yếu là do giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống; đồ uống và thuốc lá; nhà ở và vật liệu xây dựng…tăng do nhu cầu tiêu dùng tăng, giá nước sinh hoạt tăng theo Quyết định số 36/2023/QĐ-UBND ngày 21/12/2023 của UBND tỉnh; giá dịch vụ y tế tăng khi các cơ sở khám chữa bệnh áp dụng mức giá mới theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT ngày 17/11/2023 của Bộ Y tế

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2024 giảm 0,90% so với tháng trước, tăng 1,90% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2024 tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 3,36% của chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2024 so với cùng kỳ năm trước có 10/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng là: thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,27%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 6,96%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,70% (lương thực tăng 26,70%, thực phẩm tăng 1,19%, ăn uống ngoài gia đình tăng 4,18%); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,65%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,62%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,07%; giao thông tăng 1,64%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,34%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,19%; giáo dục tăng 1,01%. Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,01%.

Chỉ số giá vàng tháng 3/2024 tăng 3,42% so với tháng trước, tăng 9,36% so với tháng 12 năm trước và tăng 20,49% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân quý I/2024 tăng 16,44% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2023 tăng 5,42%%).

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2024 tăng 0,84% so với tháng trước, tăng 1,70% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,13% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân quý I/2024 tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2023 tăng 3,69%).

 

Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ

 

Tháng 3 năm 2024 so với

BQ

quý I/ 2024 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 3/2023

(%)

Tháng 12/2023

(%)

Tháng 02/2024

(%)

1. Chỉ số giá tiêu dùng

103,71

101,90

99,10

103,36

2. Chỉ số giá vàng

120,49

109,36

103,42

116,44

3. Chỉ số giá đô la Mỹ

104,13

101,70

100,84

103,88

III.  CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh quý I/2024 ước tính là 335.980 người, tăng 0,06% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: nam 174.050 người, chiếm 51,80% và tăng 0,03%; nữ 161.930 người, chiếm 48,20% và tăng 0,09%; khu vực thành thị là 111.450 người, chiếm 33,17% và tăng 0,08%; khu vực nông thôn 224.530 người, chiếm 66,83% và tăng 0,05%.

Quý I/2024, lực lượng lao động có việc làm ước tính là 328.857 người, chiếm 97,88% tổng lực lượng lao động của tỉnh và tăng 0,12% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, số lao động có việc làm ở khu vực thành thị 109.422 người, chiếm 33,27%; ở khu vực nông thôn 219.436 người, chiếm 66,73%. Cơ cấu lực lượng lao động có việc làm các khu vực kinh tế như sau: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 41,01%, khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 19,85%, khu vực dịch vụ chiếm 39,13% trong tổng lực lượng lao động có việc làm (cơ cấu quý I/2023 là: 41,21%, 20,12% và 38,67%). Tỷ trọng lao động có việc làm tăng lên ở khu vực dịch vụ và giảm đi ở khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; khu vực công nghiệp - xây dựng do tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ và dệt may gặp khó khăn nên các doanh nghiệp chế biến gỗ và may mặc cắt giảm lao động; lao động ngành xây dựng giảm do thị trường bất động sản đã ấm dần lên nhưng chưa thoát khỏi tình trạng đóng băng.

Tỷ lệ thiếu việc làm chung toàn tỉnh quý I/2024 tăng so với cùng kỳ năm trước, sự biến động này diễn ra ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Quý I/2024, một số ngành nghề gặp khó khăn như: chế biến gỗ, may xuất khẩu, xây dựng…đã ảnh hưởng đến thời gian làm việc của người lao động.

Tỷ lệ thất nghiệp chung quý I/2024 ước tính là 2,12%. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,54%, giảm 0,83 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn là 2,67%, thành thị là 2,22%; nam là 2,58% và nữ là 2,45%. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nông thôn, nam và nữ đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước do các ngành kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển, thời tiết khá thuận lợi, giá cả thị trường tương đối ổn định, lãi suất ngân hàng giảm ở mức hợp lý, thị trường xuất khẩu hàng hoá đã ấm dần lên...

Từ đầu năm đến 12/3/2024, toàn tỉnh đã tuyển sinh, đào tạo cho 1.072 người (Cao đẳng 28 người, Trung cấp 453 người; Sơ cấp và đào tạo thường xuyên dưới 3 tháng 591 người).

Tính đến 13/3/2024, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 2.818 lượt lao động (trong đó: Làm việc trong tỉnh 1.056 lượt lao động; làm việc ngoài tỉnh là 1.346 lượt lao động; làm việc nước ngoài 416 lượt lao động).

Từ đầu năm đến 06/3/2024, đã có 467 người nộp hồ sơ hưởng BHTN; đã giải quyết cho 507 người hưởng trợ cấp thất nghiệp; trong đó, hơn một nữa là số người làm việc địa phương khác nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp.

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Năm 2023, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh ước tính đạt 6,68%; sản xuất nông nghiệp được mùa, được giá. Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua có tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống người dân khu vực nông thôn. Tính đến 31/12/2023 có 69/101 xã (68,3%) và 01 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Bước vào năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 7,71% (14.040 hộ nghèo) và tỷ lệ hộ cận nghèo là 5,45% (9.927 hộ cận nghèo).

Đến 15/3/2024, toàn tỉnh có 47.083 đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội tại cộng đồng, với tổng số kinh phí chi trả 28.000 triệu đồng/tháng; 16.873 đối tượng người có công và thân nhân người có công đang hưởng chế độ ưu đãi trợ cấp hằng tháng, với tổng số tiền chi trả 36.692 triệu đồng/tháng.

Trong quý I/2024, thực hiện Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 23/11/2023 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024; Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 15/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024 và Chỉ thị số 34-CT/TU ngày 08/12/2023 của Tỉnh uỷ về việc tổ chức Tết Giáp Thìn năm 2024; UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 13/CT-UBND ngày 30/12/2023 về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024. Theo đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban ngành, địa phương tổ chức chăm lo Tết cho nhân dân, bảo đảm mọi người, mọi nhà đều được vui Xuân, đón Tết; công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện nên đời sống người dân ổn định, không có tình trạng thiếu đói xảy ra.

Trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, tỉnh Quảng Trị trao tặng 150.307 suất quà cho người có công, gia đình chính sách, người nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người lao động và các đối tượng khác, tổng kinh phí 73.160,343 triệu đồng, trong đó:

+ Quà Chủ tịch nước: 25.963 suất quà để tặng cho người có công và gia đình chính sách người có công, kinh phí quà tặng 7.906,8 triệu đồng.

+ Quà từ ngân sách địa phương (tỉnh/huyện/xã): 18.064 suất quà cho gia đình chính sách người có công; hộ nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh khó khăn và đối tượng khác, tổng kinh phí 6.409,225 triệu đồng.

+ Quà từ nguồn xã hội hóa và nguồn hợp pháp khác: 26.021 suất quà cho người lao động, người có công, Cựu TNXP, CBB có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo...trên địa bàn tỉnh, tổng kinh phí 11.474,728 triệu đồng.

+ Chương trình “Nối vòng tay nhân ái” và các hoạt động chăm lo Tết cho người nghèo Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, UBMTTQVN các cấp, Ban Tổ chức chương trình “Nối vòng tay nhân ái” và các cơ quan, đơn vị, tổ chức thành viên đã vận động nguồn lực 80.259 suất quà Tết, hỗ trợ xây dựng 134 căn nhà Đại đoàn kết, 01 căn nhà nhân ái, 65 bình chữa cháy, 03 nồi cháo cho các hộ nghèo, nạn nhân chất độc da cam, người khuyết tật và trẻ mồ côi, gia đình bị ảnh hưởng thiên tai, dịch bệnh, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn toàn tỉnh với trị giá 47.369,59 triệu đồng.

Ngoài ra, tỉnh đã bố trí kinh phí từ ngân sách tỉnh 603,9 triệu đồng để hỗ trợ khẩn cấp cho các hộ gia đình Lào giáp biên giới với tỉnh Quảng Trị có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thiếu đói, đứt bữa trong dịp Tết Cổ truyền Việt Nam, mức hỗ trợ cho mỗi hộ là 200 nghìn đồng tiền mặt và 05 kg gạo; UBND huyện Vĩnh Linh phân bổ, hỗ trợ gạo cứu đói cho nhân dân 03 xã Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà với số lượng 7.290 kg gạo/140 hộ/486 khẩu thiếu đói (mức hỗ trợ 15kg/người/tháng).

3. Giáo dục và Đào tạo

Trong quý I/2024, ngành giáo dục tập trung chỉ đạo các hoạt động để nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn thành tốt nhiệm vụ trọng tâm học kỳ II và năm học 2023-2024. 

Triển khai có hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, phát huy tính chủ động, linh hoạt của nhà trường và năng lực tự chủ của giáo viên trong thực hiện Chương trình; tiếp tục rà soát chuẩn bị về đội ngũ, bố trí đủ giáo viên, chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới đối với lớp 4, lớp 8, lớp 11 áp dụng năm học 2023 - 2024 và đối với lớp 5, lớp 9, lớp 12 áp dụng năm học 2024 - 2025.

Toàn ngành đã thực hiện tốt công tác thăm hỏi, động viên giáo viên và học sinh có hoàn cảnh khó khăn, bị bệnh hiểm nghèo nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024. Công đoàn Giáo dục tỉnh phối hợp với các tổ chức, đoàn thể, các nhà hảo tâm tổ chức Chương trình “Xuân biên giới” và “Tết sum vầy - Xuân chia sẻ”, thăm và tặng quà cho cán bộ, giáo viên và học sinh có hoàn cảnh khó khăn, bị bệnh hiểm nghèo nhân dịp Xuân Giáp Thìn năm 2024 tại các địa phương trong tỉnh với tổng số tiền gần 3.700 triệu đồng.

Tổ chức thành công Kỳ thi học sinh giỏi văn hóa trung học cơ sở. Đã có 779 thí sinh đăng ký dự thi với 10 môn thi. Kết quả có 22 giải nhất, 89 giải nhì, 166 giải ba và 197 giải khuyến khích; tỷ lệ đạt giải chiếm 60,98%.

Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất phục vụ tốt công tác dạy và học, phấn đấu tỷ lệ trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia đạt 62% trong năm 2024. Tính đến ngày 15/3/2024, tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 206/366 (chỉ tính khối các trường công lập), đạt tỷ lệ 56,28%. Trong đó: Mầm non có 98/147 trường, đạt tỷ lệ 66,67%; Tiểu học có 33/66 trường, đạt tỷ lệ 50%; Trung học cơ sở có 20/42 trường, đạt tỷ lệ 47,62%; Phổ thông có nhiều cấp học 41/87 trường, đạt tỷ lệ 47,13%; Trung học phổ thông có 14/24 trường, đạt tỷ lệ 58,33%.

Duy trì kết quả phổ cập giáo dục - xoá mù chữ. 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD THCS, trong đó: 02/125 xã đạt Mức độ 1 (xã Đakrông, xã Avao huyện Đakrông); 27 xã Mức độ 2; 96 xã Mức độ 3; 01 huyện đạt Mức độ 1 (huyện Đakrông); 03 huyện đạt Mức độ 2; 06 huyện đạt Mức độ 3. Kết quả đạt chuẩn PCGD, XMC của tỉnh năm 2023 có nhiều biến chuyển tích cực và cơ bản duy trì các chuẩn phổ cập: PCGD MN cho trẻ em 5 tuổi Đạt chuẩn; PCGD TH đạt Mức độ 3; PCGD THCS đạt Mức độ 1; XMC đạt Mức độ 2. Việc điều tra và mở các lớp XMC, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ cho đối tượng 15-60 tuổi được quan tâm.

4. Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực  phẩm

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh có 386 ca mắc bệnh cúm; 02 ca mắc bệnh lỵ Amip; 16 ca mắc bệnh lỵ trực trùng; 19 ca mắc thuỷ đậu; 133 ca mắc bệnh tiêu chảy; 09 ca viêm gan vi rút; 28 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 02 ca tay chân miệng; 02 ca mắc bệnh quai bị; 01 ca mắc bệnh sốt rét...Tính chung quý I/2024, toàn tỉnh có 753 ca mắc bệnh cúm, giảm 7,27% (-59 ca) so với cùng kỳ năm trước; 04 ca mắc bệnh lỵ Amip, giảm 33,33% (-02 ca); 30 ca mắc bệnh lỵ trực trùng, giảm 23,08% (-09 ca); 33 ca mắc thuỷ đậu, giảm 38,89% (-21 ca); 236 ca mắc bệnh tiêu chảy, giảm 3,67% (-09 ca); 16 ca viêm gan vi rút, giảm 23,81% (-05 ca); 86 ca mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 48,81% (-82 ca); 04 ca tay chân miệng, tăng 33,33% (+03 ca); 14 ca mắc bệnh quai bị, tăng 14 ca; 01 ca mắc bệnh sốt rét, tăng 01 ca. Không có trường hợp tử vong do dịch bệnh.

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh phát hiện thêm 05 trường hợp nhiễm mới HIV, không có trường hợp tử vong do AIDS. Tính đến nay, toàn tỉnh có 84 xã, phường, thị trấn phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS; số người nhiễm HIV còn sống tại Quảng Trị là 318 người (số trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV là 12 trẻ, số bà mẹ mang thai nhiễm HIV sinh con là 45 bà mẹ); Số bệnh nhân tử vong do AIDS toàn tỉnh tính đến thời điểm trên là 111 người.

Trong tháng Ba và quý I/2024, trên địa bàn tỉnh không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra.

5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Quý I/2024, toàn tỉnh tổ chức trang trí khánh tiết, tuyên truyền cổ động trực quan Chào mừng kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Xuân Giáp Thìn năm 2024...Các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao mừng Đảng, mừng Xuân năm 2024 đã được triển khai tích cực, hiệu quả, theo kế hoạch đề ra, bám sát sự chỉ đạo của cấp trên.

Xây dựng và biểu diễn chương trình nghệ thuật với chủ đề “Khát vọng Quảng Trị” chào đón giao thừa Xuân Giáp Thìn 2024 tại Quảng trường Trung tâm Văn hoá - Điện ảnh tỉnh với sự tham gia của các ca sĩ, diễn viên Đoàn Nghệ thuật truyền thống tỉnh và một số ca sĩ là con em người Quảng Trị hoạt động nghệ thuật trên toàn quốc, kết thúc là màn bắn pháo hoa đã tạo không khí vui tươi, phấn khởi chào đón Xuân mới, được nhân dân hưởng ứng.

Đoàn Nghệ thuật truyền thống tỉnh phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh tổ chức 08 buổi văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân tại huyện Đảo Cồn Cỏ, huyện Triệu Phong, Thị xã Quảng Trị, huyện Gio Linh, huyện Vĩnh Linh…Trong tháng 3/2024, Đoàn Nghệ thuật truyền thống tỉnh triển khai xây dựng, tập luyện và tổ chức biểu diễn thành công nhiều buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị: Chương trình giao lưu ra quân huấn luyện năm 2024 tại Trung đoàn BB842, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh; chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 65 năm ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng (03/3/1959 – 03/3/2024) và 35 năm ngày Biên phòng toàn dân (03/3/1989- 03/03/2024); Chương trình nghệ thuật “Niềm tin gắn kết” thắp đuốc tri ân của Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh SAIGON CO.OP tại khu tưởng niệm Thành Cổ Quảng Trị; Hội thảo khu vực kinh tế thương mại xuyên biên giới chung Lao Bảo – Densavan...

Tổ chức 36 buổi chiếu phim lưu động phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa tại huyện Hướng Hóa, Đakrông, Vĩnh Linh với hơn 10.000 người xem.

Tổ chức khai mạc Hội Báo xuân Giáp Thìn với các hoạt động: Trưng bày mô hình sách kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2024); sách chuyên đề phong tục lễ Tết và chào Xuân Giáp Thìn (tổng số hơn 78 báo tạp chí Trung ương, chuyên ngành và 64 loại Báo của các tỉnh thành trong cả nước).

Các huyện, thị xã, thành phố tổ chức tốt hoạt động thể dục, thể thao mừng Đảng, mừng Xuân Giáp Thìn năm 2024. Các hoạt động thể dục, thể thao tại các địa phương đã được chuẩn bị tốt, gồm các môn thể thao quần chúng, các môn thể thao dân tộc và các trò chơi dân gian truyền thống, đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, trong dịp Tết như: Hội đu truyền thống thôn Nhĩ Trung, xã Gio Hải (huyện Gio Linh); Hội Đua thuyền mừng Đảng, mừng Xuân Giáp Thìn thôn Phú Hội, xã Triệu An (huyện Triệu Phong); Lễ hội chợ đình Bích La, xã Triệu Thành (huyện Triệu Phong); Giải Cờ tướng mừng Đảng, mừng Xuân Giáp Thìn năm 2024 huyện Triệu Phong; Hội Bài chòi tại Trung tâm Văn hoá huyện Vĩnh Linh; Giải Đua thuyền mừng Đảng, mừng xuân Giáp Thìn TP Đông Hà và giải Quần vợt 02 thế hệ của Liên đoàn Quần vợt tỉnh…

Ngoài ra còn có 1 số hoạt động: Ngành Y tế tổ chức Giải Bóng đá ngành Y tế tỉnh Quảng Trị năm 2024 chào mừng kỷ niệm 69 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 – 27/2/2024); Đảng uỷ Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh tổ chức Giải bóng đá nam, nữ thanh niên năm 2024.

Chuẩn bị các điều kiện tổ chức các hoạt động Chào mừng kỷ niệm 78 năm Ngày truyền thống Ngành Thể dục thể thao Việt Nam (27/3/1946 - 27/3/2024); 93 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2024); Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và Tháng hoạt động thể dục, thể thao cho mọi người năm 2024; Hội khỏe Phù Đổng tỉnh Quảng Trị lần thứ VII năm 2024.

6. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, tháng 3/2024 (15/02-14/3), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông, tăng 5,56% (+01 vụ) so với tháng trước và tăng 35,71% (+05 vụ) so với cùng kỳ năm trước; làm chết 13 người, tăng 160% (+08 người) và tăng 160% (+08 người); bị thương 15 người, giảm 11,76% (-02 người) và bằng cùng kỳ năm trước. Trong tất cả các vụ tai nạn giao thông trong tháng 3/2024, đường bộ xảy ra 18 vụ, làm chết 12 người, bị thương 15 người; đường sắt xảy ra 01 vụ, làm chết 01 người.

Tính chung quý I/2024 (Từ 15/12/2023 đến 14/3/2024) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông, tăng 9,62% (+05 vụ ) so với cùng kỳ năm trước; làm chết 27 người, tăng 28,57% (+05 người); bị thương 47 người, tăng 6,82% (+03 người). Trong tất cả các vụ tai nạn giao thông trong quý I/2024, đường bộ xảy ra 56 vụ, làm chết 26 người, bị thương 47 người; đường sắt xảy ra 01 vụ, làm chết 01 người.

7. Thiệt hại thiên tai, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng Ba và quý I/2024, trên địa bàn tỉnh không có thiên tai xảy ra.

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ cháy, tăng 100% (+02 vụ) so với tháng trước và tăng 100% (+02 vụ) so với cùng kỳ năm trước; không có thiệt hại về người; thiệt hại về tài sản đang thống kê. Tính chung, từ đầu năm đến nay đã xảy ra 09 vụ cháy, giảm 30,77% (-04 vụ) so với cùng kỳ năm trước; không có thiệt hại về người; ước tính giá trị thiệt hại về tài sản 452,50 triệu đồng, tăng 236,43%.

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh phát hiện và xử lý 14 vụ vi phạm môi trường, giảm 57,57% (-19 vụ) so tháng trước và tăng 55,55% (+05 vụ) so với cùng kỳ năm trước (06 vụ vi phạm khai thác tài nguyên khoáng sản, 03 vi phạm về an toàn thực phẩm; 01 vụ vi phạm về kiểm dịch thú y; 04 vụ vi phạm khác); số tiền xử phạt 36,5 triệu đồng, giảm 90,45% so với tháng trước và giảm 59,61% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung từ đầu năm đến nay đã phát hiện và xử lý 82 vụ vi phạm môi trường, tăng 46,43% (+26 vụ ) so với cùng kỳ năm trước; số tiền xử phạt 720,63 triệu đồng, tăng 62,79%.

 

Số liệu KT-XH Quý I năm 2024

 CỤC THỐNG KÊ QUẢNG TRỊ


Hoạt động trong ngành
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG NĂM 2023 - 05/03/2024
CÔNG KHAI DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NĂM 2024 - 28/02/2024
CÔNG KHAI QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH - 18/09/2023
Hoạt động của nữ công Cục Thống kê Quảng Trị chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10/2022 - 19/10/2022
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NĂM 2022 - 01/06/2022
THÔNG BÁO KẾT LUẬN THANH TRA - 25/05/2022
HỘI NGHỊ THỐNG KÊ TOÀN QUỐC - 18/03/2022
KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH THỐNG KÊ (06/5/1946-06/5/2021) - 25/04/2021
ĐIỀU TRA NÔNG THÔN NÔNG NGHIỆP GIỮA KỲ NĂM 2020 - 30/06/2020
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NĂM 2019 - 11/04/2019
Ý kiến kết luận của chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Chính tại buổi làm việc với Cục Thống kê - 30/08/2018
Chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị về việc chuẩn bị Tổng điều tra Dân số nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019 trên địa bàn tỉnh - 23/08/2018
Lễ công bố quyết định thành lập Chi đoàn Cục Thống kê Quảng Trị - 14/12/2017
Quyết tâm tổ chức thực hiện thắng lợi cuộc Tổng điều tra kinh tế 2017 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị - 16/03/2017
Thông báo lịch thi tuyển CC và triệu tập thí sinh 2017 - 23/02/2017
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2014 - 05/03/2014
Hoạt động trong ngành tháng 1 năm 2014 - 23/01/2014
Hoạt động trong ngành tháng 12 năm 2013 - 02/01/2014
Hoạt động trong ngành tháng 10 năm 2013 - 01/11/2013
Hoạt động trong ngành tháng 9 năm 2013 - 02/10/2013
Hoạt động trong ngành tháng 8 năm 2013 - 03/09/2013
Hoạt động trong ngành tháng 7 năm 2013 - 01/08/2013
Hoạt động trong ngành tháng 6 năm 2013 - 01/07/2013
Hoạt động trong ngành tháng 5 năm 2013 - 05/06/2013
Hoạt động trong ngành tháng 4 năm 2013 - 07/05/2013
Hoạt động trong ngành tháng 3 năm 2013 - 02/04/2013
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2013 - 02/04/2013
Hoạt động trong ngành tháng 12 năm 2012 - 28/12/2012
Hoạt động trong ngành tháng 11 năm 2012 - 30/11/2012
Hoạt động trong ngành tháng 10 năm 2012 - 02/11/2012
Kỷ niệm ngày thống kê thế giới - 18/10/2012
Hoạt động trong ngành tháng 9 năm 2012 - 01/10/2012
Hội nghị công tác thống kê tổng hợp năm 2012 - 16/08/2012
Hoạt động trong ngành tháng 7 năm 2012 - 01/08/2012
Hoạt động trong ngành tháng 6 năm 2012 - 02/07/2012
Hội thảo góp ý Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia - 15/06/2012
Hoạt động trong ngành tháng 5 năm 2012 - 04/06/2012
Hoạt động trong ngành tháng 4 năm 2012 - 02/05/2012
Hoạt động trong ngành tháng 3 năm 2012 - 30/03/2012
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2012 - 02/03/2012
Hoạt động trong ngành tháng 1 năm 2012 - 03/02/2012
Báo cáo tổng kết công tác 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012 do Ông: Nguyễn Thanh Nghị - Phó cục trưởng trình bày tại Hội nghị tổng kết ngành năm 2011 - 17/01/2012
Báo cáo tổng kết công tác thi đua - khen thưởng năm 2011 do Ông: Trần Ánh Dương - Phó cục trưởng trình bày trước Hội nghị Tổng kết ngành - 17/01/2012
Bài phát biểu của đồng chí Đỗ Thức, Tổng cục trưởng, tại Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2012 của ngành Thống kê - 11/01/2012
Hoạt động trong ngành tháng 12 năm 2011 - 30/12/2011
Hội nghị công bố kết quả điều tra đánh giá tình hình trẻ em và phụ nữ 2010-2011 - 19/12/2011
Hoạt động trong ngành tháng 11 năm 2011 - 28/11/2011
Hoạt động trong ngành tháng 10 năm 2011 - 28/11/2011
Hoạt động trong ngành tháng 9 năm 2011 - 30/09/2011
Hoạt động trong ngành tháng 8 năm 2011 - 25/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 7 năm 2011 - 24/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 6 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 5 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 4 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 3 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 1 năm 2011 - 22/08/2011
Công báo chính phủ Tổng cục Thống kê Niên giám Thống kê Gửi báo cáo Thống kê
Mạng riêng của ngành dieu tra doanh nghiep 2024 Biểu chế độ báo cáo Cục Thống kê tỉnh năm 2013 Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị

TIẾNG KINH HỎI ĐÁP
ĐIỀU TRA 53 DT KTXH