Chỉ thị về việc tăng cường công tác Thống kê trên địa bàn tỉnh Quảng Trị - 16/09/2022    
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NĂM 2022 - 01/06/2022    
Tỉnh Quảng Trị ra quân Tổng điều tra Kinh tế năm 2021 giai đoạn 2 - 03/07/2021    
Ngành Thống kê 75 năm xây dựng và trưởng thành - 06/05/2021    
Xác định đúng nguồn lực mới thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng theo kế hoạch - 06/05/2021    
KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH THỐNG KÊ (06/5/1946-06/5/2021) - 25/04/2021    
TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2021 - 10/03/2021    
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 01 NĂM 2016 - 08/04/2016    
Hội nghị điển hình tiên tiến Ngành Thống kê năm 2015 - 18/04/2015    
Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2015 của Tổng cục Thống kê - 04/02/2015    
Kế hoạch công tác tháng 01 năm 2015 - 27/01/2015    
Kế hoạch công tác tháng 12 năm 2014 - 27/01/2015    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2014 - 12/11/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2014 - 01/10/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2014 - 27/08/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2014 - 23/07/2014    
Đoàn Công tác của Tổng cục Thống kê tại Vương quốc Campuchia - 21/07/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014 - 23/06/2014    
Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác chia sẻ thông tin giữa Tổng cục Thống kê và Ban Kinh tế Trung ương - 05/06/2014    
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2014 - 23/05/2014    
Trực tuyến: 73
Hôm nay: 366
Lượt truy cập: 1,126,579
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2014
Cập nhật bản tin: 10/1/2014
            

TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI 9 THÁNG NĂM 2014

 

I. KINH TẾ

1. Tài chính, ngân hàng

1.1. Tài chính

Do thu ngân sách trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu chi ngân sách của địa phương; nên Sở Tài chính thường xuyên theo dõi tiến độ thực hiện dự toán để kịp thời tham mưu UBND tỉnh trong công tác quản lý điều hành ngân sách đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm phù hợp với khả năng của ngân sách; thực hiện chủ trương chống lãng phí trong chi tiêu ngân sách, kiên quyết cắt giảm các khoản chi chưa cần thiết, hạn chế chi bổ sung ngoài dự toán. Thực hiện công khai dự toán ngân sách các cấp và các đơn vị thụ hưởng ngân sách theo đúng quy định.

Tổng thu ngân sách trên địa bàn đến 17/9/2014 là: 1622,402 tỷ đồng, đạt 100,4% dự toán địa phương giao năm 2014 và tăng 51,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó:

- Thu nội địa: 782,144 tỷ đồng, đạt 75,9% dự toán ĐP ( Nếu loại trừ khoản thu tiền sử dụng đất thì thu nội địa là 607,958 tỷ đồng, đạt 69,4% dự toán) và tăng 9% so với cùng kỳ năm trước.

- Thu xuất, nhập khẩu 840,258 tỷ đồng, đạt 143,4% dự toán ĐP và tăng 138,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách địa phương đến ngày 17/9/2014 là: 3576,455 tỷ đồng, đạt 71,3% dự toán năm ĐP giao và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, một số khoản chi cụ thể như:

- Chi xây dựng cơ bản tập trung: 115,246 tỷ đồng, đạt 81,2% dự toán năm và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước.

- Chi thường xuyên: 2464,712 tỷ đồng, đạt 74% dự toán năm và tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.

1.2. Ngân hàng

Tiếp tục triển khai có hiệu quả các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tập trung công tác huy động vốn, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và hộ dân, chú trọng tăng trưởng tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đặc biệt ưu tiên đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu; điều hành lãi suất theo hướng giảm trần lãi suất tiền gửi và cho vay... Hoạt động của các tổ chức tín dụng an toàn, thanh khoản tiếp tục được cải thiện. Đã triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp xử lý nợ xấu như rà soát, đánh giá, phân loại nợ xấu để hạn chế thấp nhất nợ xấu phát sinh.

Huy động vốn: ước đến 30/9/2014 huy động vốn trên địa bàn đạt 10680 tỷ đồng, tăng 13,06% so với cùng kỳ năm trước; giảm 4,34% so với cuối năm 2013.

Hoạt động tín dụng: ước đến 30/9/2014 dư nợ cho vay đạt 12600 tỷ đồng, tăng 18,13% so với cùng kỳ năm trước; tăng 11,65% so với cuối năm 2013.

Chất lượng tín dụng: nợ xấu đến 30/9/2014 là 120 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,95% so với tổng dư nợ, tăng 68,35% (+49 tỷ đồng) so với cuối năm 2013.

2. Đầu tư và xây dựng

2.1. Đầu tư

Dự ước, tổng mức vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 9 tháng năm 2014 thực hiện 6657,8 tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn nhà nước thực hiện 1863,9 tỷ đồng, tăng 9,7%; vốn ngoài nhà nước thực hiện 4721,4 tỷ đồng, tăng 11,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 72,4 tỷ đồng, giảm 23,9%.

Theo khoản mục đầu tư, vốn đầu tư xây dựng cơ bản ước thực hiện 5104,4 tỷ đồng, tăng 11%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định không qua xây dựng cơ bản thực hiện 768,3 tỷ đồng, tăng 14,6%; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản cố định thực hiện 409,8 tỷ đồng, tăng 0,9%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động thực hiện 201,8 tỷ đồng, giảm 5,1%; vốn đầu tư phát triển khác 173,4 tỷ đồng, tăng 12%.

Vốn đầu tư từ nguồn vốn nhà nước 9 tháng năm 2014 tăng là do một số công trình phát triển kinh tế và dân sinh được giải ngân vốn để hoàn thành đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả; hơn nữa, năm nay có thêm Dự án mở rộng Quốc lộ 1A đoạn thuộc địa phận Quảng Trị, tổng vốn đầu tư 408,5 tỷ đồng được thực hiện. Vốn đầu tư từ nguồn vốn ngoài nhà nước tăng khá là do các doanh nghiệp ngoài nhà nước mới thành lập nên bổ sung thêm nguồn vốn; mặt khác, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất công nghiệp đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế, cụm công nghiệp, làng nghề; đầu tư xây dựng nhà ở và đầu tư khác của dân cư. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm là do một số dự án FDI làm ăn kém hiệu quả, có khả năng giải thể.

Một số công trình quan trọng thực hiện trong 9 tháng từ nguồn vốn nhà nước như: Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện chuyên khoa Lao và bệnh phổi, cơ sở hạ tầng Khu Công nghiệp Nam Đông Hà, Khu Công nghiệp Quán Ngang, Khu kinh tế Thương mại đặc biệt Lao Bảo, Khu kinh tế quốc phòng Khe Sanh, Dự án mở rộng Quốc lộ 1A, Đường tránh lũ, cứu hộ, cứu nạn và phát triển kinh tế, đảm bảo ANQP vùng ven biển phía Nam, Cầu Sông Hiếu và đường hai đầu cầu; kè chống xói lỡ bờ sông Hiếu (GĐ2), kè chống xói lỡ Bắc sông Thạch Hãn, Bảo tồn Khu di tích Thành Cổ (GĐ 2), Khu tái định cư Lao Bảo…

Một số công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng trong 9 tháng: Đường tránh lũ, cứu hộ, cứu nạn và phát triển kinh tế, đảm bảo ANQP vùng ven biển phía Nam Quảng Trị có tổng vốn đầu tư 607,35 tỷ đồng; đường vào xã A Ngo có tổng vốn đầu tư 84 tỷ đồng; Tiểu dự án mở rộng Quốc lộ 1A đoạn từ TP Đông Hà đến TX Quảng Trị có tổng vốn đầu tư 144,32 tỷ đồng; Nhà thi đấu đa năng tỉnh Quảng Trị có tổng vốn đầu tư 78,21 tỷ đồng; Nhà máy chế biến bột cá Hồng Đức Vượng (FDI) có tổng vốn đầu tư 80 tỷ đồng…Các công trình hoàn thành đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Một số công trình mới khởi công trong 9 tháng: Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng Cửa Tùng có tổng vốn đầu tư 39,67 tỷ đồng, vốn bố trí trong năm 2014 là 17,3 tỷ đồng; nhà Văn hoá Trung tâm TP Đông Hà vốn đầu tư 39,63 tỷ đồng...

Về vốn FDI: Mặc dù tỉnh đã có chủ trương tập trung tháo gở khó khăn về thủ tục hành chính trong các lỉnh vực đầu tư, tạo môi trường thuận lợi về kết cấu hạ tầng và cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư FDI vào các lỉnh vực sản xuất công nghiệp và du lịch có lợi thế; nhưng tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2014 tiếp tục gặp khó khăn. Trong 9 tháng năm 2014 toàn tỉnh chỉ thu hút được 01 dự án FDI đó là Công ty TNHH My Anh ( Hướng Hóa) có tổng vốn đăng ký là 1,5 triệu USD. Như vậy, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 7 dự án FDI đang hoạt động với tổng vốn đăng ký là 19, 603 triệu USD.

Về vốn ODA: trong 9 tháng năm 2014 có 02 dự án ODA mới được UBND tỉnh chính thức có văn bản trình các bộ, ngành Trung ương xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục tài trợ với tổng mức đầu tư 612,697 tỷ đồng, 02 dự án được UBND tỉnh phê duyệt đầu tư với tổng vốn đầu tư 16,663 tỷ đồng và 02 dự án được UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh đầu tư với tổng vốn đầu tư 44,816 tỷ đồng.

Về tình hình đầu tư vào các Khu kinh tế:

Trong 9 tháng năm 2014 tỉnh đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 6 dự án, đó là Trung tâm cung ứng dịch vụ vào Khu Công nghiệp (Cty CP Thương mại Bia Sài Gòn Bắc Trung bộ), Trung tâm 18 Lao Bảo (Cty TNHH 1TV 18 Lao Bảo), Nhà máy chế biến và bảo quản nông sản My Anh (Cty TNHH My Anh - Khe Sanh), Nhà máy chế biến thực phẩm Trần Thịnh Gia Phát (Cty TNHH 1TV Trần Thịnh Gia Phát), Trung tâm kinh doanh xuất nhập khẩu Thành Hà (Cty TNHH 1TV Thành Hà - Hướng Hoá), Nhà máy chế biến hạt điều Lao Bảo (Cty TNHH Lao Bảo ELECTRONICS) với tổng vốn đầu tư đăng ký 197,87 tỷ đồng.

Về công tác giải ngân: đến 31/8/2014, Kho bạc nhà nước tỉnh thực hiện 1585,34 tỷ đồng, đạt 68,14% kế hoạch năm 2014. Trong đó: nguồn vốn do địa phương quản lý thực hiện 1209,93 tỷ đồng, đạt 67,83% kế hoạch. Chi nhánh Ngân hàng phát triển Quảng Trị thực hiện 18,68 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch ( tạm giao) năm 2014.

2.2. Xây dựng

9 tháng năm 2014 hoạt động xây dựng trên địa bàn tuy có tăng trưởng, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn; tỷ lệ lạm phát giảm phản ánh sức mua trên thị trường giảm; nguồn lực đầu tư xây dựng từ nguồn Ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ giảm; tình hình kinh tế còn khó khăn nên đầu tư xây dựng trong dân hạn chế; tình hình nợ xấu chưa được cải thiện nên dòng tín dụng vẫn bị tắc nghẽn. Mặc dù, các Ngân hàng thương mại đã giảm lải suất cho vay, nới lỏng điều kiện tín dụng giúp các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn; nhưng với các doanh nghiệp xây dựng do nguồn vốn ngân sách khó khăn, giải ngân chậm đã ảnh hưởng đến khả năng chi trả nợ của doanh nghiệp cho Ngân hàng, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên việc tiếp cận nguồn vốn vay càng khó khăn hơn. Trong 9 tháng năm 2014 nhiều doanh nghiệp xây dựng phải hoạt động cầm chừng hoặc ngừng hoạt động do không có công trình. Tuy nhiên, tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN, KKT; thu hút đầu tư vào các KCN, KKT, Cụm công nghiệp…cũng đã góp phần làm tăng GTSX của ngành xây dựng.

Dự ước giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành 9 tháng năm 2014 thực hiện 5059,4 tỷ đồng; trong đó, chủ yếu do các đơn vị ngoài nhà nước thực hiện; Công trình nhà ở chiếm 51,8%, công trình nhà không để ở chiếm 9,5%, công trình kỹ thuật dân dụng chiếm 37,4%, hoạt động xây dựng chuyên dụng chiếm 1,3%.

Giá trị sản xuất xây dựng 9 tháng năm 2014 theo giá so sánh 2010 ước thực hiện 3679,9 tỷ đồng, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, doanh nghiệp nhà nước thực hiện 8,2 tỷ đồng, giảm 17%; các đơn vị ngoài nhà nước thực hiện 3671,6 tỷ đồng, tăng 8,1%.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

3.1. Nông nghiệp

3.1.1. Trồng trọt

a. Cây hàng năm

Sản xuất cây hàng năm 9 tháng năm 2014: vụ Đông Xuân được mùa toàn diện, hầu hết các loại cây trồng đều cho năng suất và sản lượng cao hơn vụ Đông Xuân năm trước; nhất là cây lúa, do thời tiết thuận lợi từ đầu vụ đến cuối vụ, nguồn nước tưới đảm bảo, tình hình sâu bệnh giảm, đặc biệt ngay từ đầu vụ toàn tỉnh đã phát động phong trào ra quân diệt chuột, nên diện tích lúa bị chuột phá hoại giảm nhiều so với vụ Đông Xuân năm trước. Hơn nửa, năm nay tỉnh đã chỉ đạo các địa phương gieo trồng đúng lịch thời vụ, đưa vào gieo cấy các loại giống lúa cho năng suất cao như: Khang dân, nX30, X23,IR25366 chiếm tỷ lệ lớn, các giống lúa chất lượng cao như: HT1, PC6, HC95, Ma Lâm…cũng cho năng suất cao hơn hẳn những năm trước, việc thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp đã hạn chế được hao hụt trong quá trình thu hoạch. Vụ Hè Thu năm nay tỉnh đã chỉ đạo các địa phương thực hiện lịch thời vụ sao cho đảm bảo thu hoạch sớm để tránh lũ vào cuối vụ, cơ cấu chủ yếu là giống lúa ngắn ngày và cực ngắn nên những vùng trọng điểm lúa đều thu hoạch sớm tránh được lũ; thời tiết tương đối thuận lợi, tuy có nắng nóng kéo dài, nhưng nhờ chủ động được nguồn nước tưới, có phương án chống hạn trước mùa vụ nên không ảnh hưởng nhiều; tình hình sâu bệnh giảm; đặc biệt, thừa hưởng kết quả phong trào diệt chuột từ vụ Đông Xuân nên vụ Hè Thu diện tích lúa bị chuột phá hoại rất ít nên cây lúa cũng cho năng suất cao hơn năm trước.

Sơ bộ kết quả sản xuất cây hàng năm 9 tháng năm 2014 như sau:

Về diện tích: toàn tỉnh đã gieo trồng được 80373,1 ha các loại cây hàng năm, tăng 1,6% (+1237,4 ha) so với cùng kỳ năm trước; Trong đó: cây lúa gieo cấy 47867,6 ha, tăng 0,3% (+145 ha); cây ngô gieo trồng 3830,8 ha, tăng 7,7% (+273,6 ha); khoai lang 2612,7 ha, giảm 4,3% (-118,8 ha); sắn 11771,5 ha, tăng 7,5% (+817,1 ha); cây chất bột khác 1775,2 ha, giảm 2,3% (-42,2 ha); lạc 4248,4 ha, giảm 0,9% (-38,2 ha); rau các loại 5138,9 ha, tăng 4,8% (+234,6 ha); đậu các loại 1689,6 ha, giảm 8% (-147,7 ha); cây ớt 418,5 ha, tăng 16,9% (+60,4 ha)...Diện tích lạc, đậu các loại giảm là do vụ Hè Thu đầu vụ nắng nóng kéo dài, đất khô, không thể làm đất gieo trồng được.

Về năng suất, sản lượng: Cây lúa năng suất ước đạt 52,6 tạ/ha, tăng 6,1 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước; sản lượng ước đạt 251772 tấn, tăng 13,5% (+29854 tấn). Cây ngô năng suất ước đạt 29,2 tạ/ha, tăng 2,5 tạ/ha; sản lượng ước đạt 11180 tấn, tăng 17,8% (+1687 tấn). Cây khoai lang năng suất ước đạt 72,6 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha; sản lượng ước đạt 18961 tấn, giảm 2,1% (-398 tấn). Cây chất bột khác năng suất ước đạt 103,9 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha; sản lượng ước đạt 18437 tấn, giảm 1,1% (- 207 tấn). Cây lạc năng suất ước đạt 18,2 tạ/ha, giảm 1,7 tạ/ha; sản lượng ước đạt 7744 tấn, giảm 9,2% (-785 tấn). Rau các loại năng suất ước đạt 95,4 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha; sản lượng ước đạt 49020 tấn, tăng 5,9% (+2723 tấn). Đậu các loại năng suất ước đạt 8,9 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha; sản lượng ước đạt 1507 tấn, giảm 6,4% (-103 tấn). Cây ớt năng suất ước đạt 52,3 tạ/ha, bằng năm trước; sản lượng ước đạt 2188 tấn, tăng 16,8% (+315 tấn). Cây lạc năng suất giảm là do vụ Đông Xuân gặp hạn trong thời gian dài; bệnh thối gốc, lở cổ rể, héo xanh do vi khuẩn; các loại sâu ăn lá phát sinh gây hại nên bị ảnh hưởng, năng suất đạt thấp. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 262952 tấn, tăng 13,6% (+31541 tấn) so với cùng kỳ năm 2013.

b. Cây lâu năm

 - Cây hồ tiêu: diện tích hiện có 2062,8 ha, tăng 2,9% (+57,5 ha) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2014 ước đạt 1531 tấn, giảm 27,8% (-589 tấn). Sản lượng hồ tiêu giảm là do ảnh hưởng của các cơn bão số 10, số 11 trong năm 2013, đồng thời một số diện tích tiêu cho sản phẩm bị chết do bệnh nấm lở cổ rễ, nên năm nay cây hồ tiêu mất mùa. Tuy nhiên, năm nay giá tiêu đang ở mức cao, khuyến khích bà con chú trọng thâm canh.

- Cây cà phê: diện tích hiện có 4865,8 ha, giảm 1,3% (-66 ha); sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2014 ước đạt 1356 tấn, giảm 5,8% (-84 tấn). Sản lượng cà phê giảm là do thời vụ năm nay muộn hơn năm trước; 9 tháng đầu năm mới thu hoạch cà phê mít, cà phê chè chưa thu hoạch.

- Cây cao su: diện tích hiện có 18597 ha, giảm 3,1% (-591 ha); sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2014 ước đạt 9070 tấn, giảm 20% ( -2272 tấn). Sản lượng cao su giảm mạnh là do một số diện tích cao su cho sản phẩm bị thiệt hại trong cơn bảo số 10, số 11 năm 2013; hơn nữa, giá cao su năm nay xuống quá thấp, thu không đủ chi, nên người trồng cao su không thiết tha khai thác.

Đối với các loại cây ăn quả như xoài, chuối, dứa năng suất, sản lượng ổn định so với cùng kỳ năm trước.

3.1.2.Chăn nuôi

Đến thời điểm 1/9/2014, tổng đàn chăn nuôi của tỉnh có: đàn trâu 24411 con, giảm 1,1% (-276 con) so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 52150 con, tăng 3% (+1528 con); đàn lợn 267470 con, tăng 11,6% (+27859 con); đàn  gia cầm 2014 nghìn con, tăng 6,6% (+124 nghìn con); trong đó: đàn gà 1390 nghìn con, tăng 13% (+160 nghìn con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 25431 tấn, tăng 3,9% (+945 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Đàn trâu giảm do khâu làm đất hiện nay hầu hết được cơ giới hóa, đồng cỏ ngày càng bị thu hẹp. Đàn bò tăng do giá cả tăng, hiện nay các ngành chức năng đã chuyển giao nhiều tiến bộ khoa học kỷ thuật về con giống, phương thức nuôi, kết hợp các giải pháp an toàn sinh học và phòng trừ dịch bệnh, tận dụng các sản phẩm phụ trồng trọt…chăn nuôi bò mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là chăn nuôi vỗ béo, nên khuyến khích bà con nông dân tăng tổng đàn. Đàn lợn và đàn gia cầm tăng do giá cả đầu ra ổn định, giá thức ăn chăn nuôi tương đối hợp lý, dịch bệnh trên đàn lợn, gia cầm ít xảy ra và được khống chế kịp thời, nên bà con đã đầu tư chăn nuôi trở lại; một số mô hình gia trại, trang trại đã đầu tư tăng quy mô chăn nuôi.

Trong 9 tháng qua ngành Thú y và các địa phương luôn chú trọng công tác tiêm phòng; công tác kiểm soát dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được tăng cường. Tuy dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm có xảy ra như: cúm gia cầm ở 3 huyện Gio Linh, Triệu Phong và Cam Lộ; dịch lỡ mồm long móng trên đàn trâu, bò ở huyện Đakrông, Hướng Hóa và Gio Linh; nhiễm Virus H5N6 trên đàn vịt ở huyện Gio Linh, nhưng ngay khi dịch xảy ra, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo Chi cục Thú y kịp thời triển khai các biện pháp khống chế và dập dịch, không để lây lan, nên hạn chế được thiệt hại xảy ra. Công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động giết mổ, kiểm dịch động vật được tăng cường, bảo đãm vệ sinh an toàn thực phẫm và phòng chống dịch bệnh.

3.2. Lâm nghiệp

3.2.1.Trồng rừng và chăm sóc rừng

Thực hiện kế họach giao từ đầu năm, các Công ty Lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ và các Dự án Lâm nghiệp đã có sự chuẩn bị tốt về thiết kế diện tích trồng rừng, phát dọn thực bì, làm đất và chuẩn bị cây giống, phân bón các lọai ... sẽ tiến hành trồng rừng vào mùa mưa. Theo kế họach trồng rừng năm 2014 toàn tỉnh trồng 5500 ha rừng, phấn đấu đưa tỷ lệ độ che phủ rừng lên 48,3%. 9 tháng năm 2014 diện tích rừng trồng mới tập trung ước thực hiện 1639 ha, giảm 18,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước thực hiện 858,3 nghìn cây, giảm 26%; diện tích rừng trồng được chăm sóc ước thực hiện 19176 ha, giảm 10,8%; ươm giống cây lâm nghiệp ước thực hiện 11325 nghìn cây, tăng 14%...

9 tháng năm 2014, diện tích rừng trồng giảm so với cùng kỳ năm trước là do thời tiết nắng nóng kéo dài, mùa mưa đến muộn hơn năm trước; hiện nay, rừng trồng mới chủ yếu là ở 2 huyện miền núi Hướng Hóa và Đakrông đã bước vào mùa mưa.

3.2.2.Khai thác gỗ và lâm sản

Tổng sản lượng gỗ khai thác 9 tháng năm 2014 ước đạt 254614 m3, tăng 16,3% (+35739 m3) so với cùng kỳ năm trước; chủ yếu là sản lượng gỗ khai thác từ diện tích rừng trồng đến kỳ thu hoạch; sản lượng củi khai thác ước đạt 237075 ste, tăng 3,9% (+9004 ste), chủ yếu là nhân dân khai thác để phục vụ đời sống.

Sản lượng gổ khai thác 9 tháng năm nay tăng khá là do trong những năm qua với nhiều chính sách phát triển kinh tế của địa phương, phong trào trồng rừng, kinh doanh rừng để tiến tới làm giàu ở Quảng Trị đã có những chuyển biến tích cực, từ chỗ trồng rừng để giảm nghèo, nông dân Quảng Trị đã chuyển sang phát triển rừng bền vững, nâng cao hiệu quả kinh tế do rừng mang lại. Hơn nữa, được sự hỗ trợ của các dự án JICA2, dự án bảo vệ và phát triển rừng, dự án trồng rừng vành đai Biên giới... đã hướng dẫn cho các Ban quản lý rừng phòng hộ đẩy mạnh các hoạt động trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác rừng có hiệu quả.

3.2.3.Thiệt hại rừng

Trong 9 tháng năm 2014, mặc dù chính quyền địa phương, kiểm lâm trên địa bàn đã tích cực tuyên truyền vận động nhân dân tăng cường tuần tra, kiểm soát lửa rừng, chấp hành các quy định trong khai thác cũng như các hoạt động trong rừng, các địa phương đã tích cực, chủ động triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ngay từ đầu năm. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng và khô hạn kéo dài nên tại nhiều vùng trong tỉnh đã xảy ra nhiều vụ cháy rừng, đặc biệt là các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng vẫn liên tiếp xảy ra nhiều vụ cháy rừng. Theo số liệu của Chi cục kiểm lâm, 9 tháng năm 2014 đã xảy ra 13 vụ cháy rừng ( chưa tính vụ cháy rừng ngày 20/9/2014 tại xã Hải Sơn – Hải Lăng), với diện tích rừng bị cháy là 235,9 ha, ước giá trị thiệt hại 3651 triệu đồng. Địa phương có diện tích bị cháy nhiều là huyện Hải Lăng, Vĩnh Linh, Triệu Phong. Năm 2013 toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào.

Về công tác quản lý bảo vệ rừng: ngoài việc tập trung triển khai phương án phòng, chống cháy rừng; lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với các địa phương và chủ rừng tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn các vụ vi phạm pháp luật quản lý bảo vệ rừng.

Việc thực hiện đợt cao điểm tăng cường công tác đấu tranh, ngăn chặn tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển trái phép lâm sản trong dịp đầu năm được thực hiện quyết liệt, có hiệu quả, xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm; rừng tự nhiên đã được bảo vệ tích cực, trên địa bàn không có các điểm nóng, vụ việc nổi cộm liên quan đến công tác bảo vệ rừng, tình hình vi phạm giảm.

3.3. Thuỷ sản

3.3.1.Tình hình cơ bản nuôi trồng và khai thác thủy sản

Hiện nay, toàn tỉnh có 214 lồng nuôi thủy sản, tăng 9,2% (+18 lồng) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là nuôi cá mú, cá chình, cá trắm, cá chép; số lồng nuôi cá tăng do một số hộ nuôi có hiệu quả kinh tế nên đã đầu tư nuôi vào lỉnh vực này. Tàu thuyền đánh bắt hải sản có động cơ 2042 chiếc, giảm 1,1% (-22 chiếc) nhưng công suất tăng 14,2% (+7937 CV); trong đó, tàu trên 90 CV có 169 chiếc, tăng 16,6% (+24 chiếc) với công suất tăng 39,8% (+11169 CV); số tàu trên 90 CV  tăng chủ yếu ở huyện Gio Linh và Triệu Phong; năm nay tỉnh đã có chính sách hổ trợ các hộ ngư dân vay vốn để nâng cấp và cải hoán tàu thuyền, mua sắm thêm tàu mới, củng cố một số ngư lưới cụ hiện có và mua sắm mới để phù hợp với một số nghề đánh bắt mới.

Diện tích nuôi trồng thủy sản 9 tháng năm 2014 thực hiện 2976,3 ha, tăng 3% (+85,5 ha) so với cùng kỳ năm trước; trong đó, nuôi cá 1951 ha, tăng 1%; nuôi tôm 993,3 ha, tăng 6,9% (tôm sú 399,8 ha, giảm 10,5%; tôm thẻ chân trắng 593,5 ha, tăng 23,2%). Diện tích nuôi trồng thủy sản năm nay tăng, chủ yếu là do nuôi tôm thẻ chân trắng tăng (+ 111,6 ha), nuôi tôm thẻ chân trắng tiếp tục khẳng định được thế mạnh, ít dịch bệnh, hiệu quả cao, nên được đầu tư phát triển.

3.3.2. Sản lượng thủy sản

Ước 9 tháng năm 2014, sản lượng thủy sản đạt 22267,6 tấn, tăng 5,4% (+1133,6 tấn) so với cùng kỳ năm trước; trong đó, sản lượng cá 16256,6 tấn, tăng 4,5% (+702,6 tấn); sản lượng tôm 3019 tấn, tăng 22,1% (+546 tấn). Cụ thể:

- Sản lượng nuôi trồng ước đạt 5312 tấn, tăng 8,7% (+423 tấn); trong đó, sản lượng cá 2440 tấn, giảm 6,8% (-177 tấn); sản lượng tôm 2864 tấn, tăng 27% (+ 608 tấn) chủ yếu là tôm thẻ chân trắng.

- Sản lượng khai thác ước đạt 16955,6 tấn, tăng 4,4% (+710,6 tấn); trong đó, sản lượng cá 13816,6 tấn, tăng 6,8% (+879,6 tấn); sản lượng tôm 155 tấn, giảm 28,6% (-62 tấn); thủy sản khác 2984 tấn, giảm 3,5% (-107 tấn).

 - Sản xuất giống: 9 tháng năm 2014 toàn tỉnh sản xuất được 68,8 triệu cá giống, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước; Trung tâm Giống Thủy sản Quảng Trị và Chi nhánh Công ty TNHH Uni - President Việt Nam tại Quảng Trị đã sản xuất được 294 triệu con tôm giống P15, tăng 53,9%.

Sản lượng cá tăng chủ yếu là do sản lượng cá đánh bắt tăng cao; 9 tháng năm nay thời tiết thuận lợi cho đánh bắt hải sản; hơn nửa tỉnh đã có chủ trương hỗ trợ ngư dân vay vốn để mua sắm, nâng cấp, cải hoán tàu thuyền và ngư lưới cụ phù hợp với một số nghề đánh bắt mới. Sản lượng tôm tăng là do diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tăng và cho năng suất cao hơn tôm sú; mặt khác, tuy dịch bệnh có xảy ra ở 4 huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng do thời tiết diễn biến thất thường, nắng nóng diễn ra trên diện rộng, bà con nuôi không có quy hoạch, xử lý ao nuôi chưa được tốt, nhưng được trung tâm khuyến ngư tỉnh giúp áp dụng mô hình nuôi ghép cá rô phi đơn tính trong ao nuôi tôm nhằm cải thiện môi trường nước, giảm thiểu những tác động của dịch bệnh.

4. Sản xuất công nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp

4.1. Sản xuất công nghiệp

Bước vào năm 2014, tỉnh đã có nhiều chủ trương và giải pháp ưu tiên tập trung tháo gở khó khăn cho sản xuất kinh doanh; các Ngân hàng thương mại đã giảm lải suất cho vay, nới lỏng điều kiện tín dụng, giúp các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn để đầu tư đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị tăng sức cạnh tranh; Tuy nhiên, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2014 vẫn gặp khó khăn, sản phẩm hàng hóa tiêu thụ chậm; chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng chậm hơn so với cùng kỳ những năm trước.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2014 tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, Cụ thể:

- Công nghiệp khai khoáng chỉ tăng 2,8%; nguyên nhân chủ yếu là do tỉnh siết chặt khâu quản lý trong khai thác khoáng sản, nguồn quặng ty tan ngày càng thu hẹp nên ngành khai thác quặng kim loại giảm 23,9%; chỉ có hoạt động khai thác đá, cát, sỏi vẫn tăng khá do hoạt động xây dựng trên địa bàn nhu cầu tăng cao nên ngành này tăng 29,2%.

- Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,7%; chỉ số phát triển của ngành này tăng chậm, do sản phẩm của một số ngành như: sản xuất, chế biến thực phẩm; chế biến gổ và sản xuất sản phẩm từ gổ; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn; sản xuất giường tủ bàn ghế không cạnh tranh được với hàng giá rẻ trên thị trường, tiêu thụ chậm nên sản xuất có xu hướng giảm; một số ngành có chỉ số tăng cao như: sản xuất đồ uống tăng 22%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 14,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 8,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi lim loại khác tăng 67,1%.

- Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 19,1%, chủ yếu là do điện sản xuất tăng cao; ngành này so với cùng kỳ năm trước tăng cao do 9 tháng năm 2013 có 1 tổ máy phải ngừng hoạt động trong nhiều tháng để bảo trì, bảo dưởng.

- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải phát triển bình thường, tăng 7,36% so với cùng kỳ năm trước.

Một số sản phẩm chủ yếu 9 tháng năm 2014 tăng so với cùng kỳ năm trước: đá xây dựng tăng 29,6%, gổ cưa hoặc xẻ tăng 10,7%, phân hóa học tăng 7,4%, lốp dùng cho xe máy, xe đạp tăng 1,7%, săm dùng cho xe máy, xe đạp tăng 22,5%, gạch xây dựng tăng 3,7%, xi măng tăng 23,3%, điện sản xuất tăng 26,9%, điện thương phẩm tăng 8,1%, nước máy tăng 10,7%. Một số sản phẩm giảm là: quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 5,1%, quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 33,6%, tinh bột sắn giảm 13,2%, ván ép giảm 4,1%, dầu nhựa thông giảm 6,5%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 8 tháng năm 2014 giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 8 tháng tăng so với cùng kỳ năm 2013: sản xuất đồ uống tăng 13,84%; sản xuất trang phục tăng 99,14%; chế biến gổ và sản xuất sản phẩm từ gổ tăng 2,65%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,93%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 10,9%.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/9/2014 giảm 26,1% so với cùng thời điểm năm 2013. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm là: sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 25,8%; chế biến gổ và sản xuất sản phẩm từ gổ giảm 26,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 25,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 21,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 49,5%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 96,7%.

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/9/2014 tăng 2,63% so với cùng thời điểm năm 2013; Trong đó, doanh nghiệp nhà nước tăng 8,26%, doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 2,2%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,1%; phân theo ngành công nghiệp: công nghiệp khai khoáng giảm 12,5%, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8%, công nghiệp sản xuất và phân phối điện giảm 0,5%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,6%.

4.2. Tình hình sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp

Tỉnh đã tích cực chỉ đạo các doanh nghiệp trong diện thực hiện cổ phần hóa tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động theo tinh thần Kết luận số 29/KL-TU ngày 19/12/2013 của Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 10 (Khóa XV) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN tỉnh giai đoạn 2014 - 2015.

Tình hình phát triển doanh nghiệp trong 9 tháng năm 2014 tiếp tục gặp khó khăn. Tính chung 9 tháng có 194 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 714 tỷ đồng, giảm 24,5% về số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và giảm 43,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp là 3,68 tỷ đồng. Trong 9 tháng số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động là 61 doanh nghiệp; trong đó, có 31 doanh nghiệp đăng ký giải thể và 30 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động.

5. Thương mại, dịch vụ và giá cả

5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 9 tháng năm 2014, trong điều kiện giá cả thị trường tương đối ổn định thuận lợi cho hoạt động kinh doanh; tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn, sức mua hạn chế; hơn nửa, giá cả xăng dầu tăng, giảm liên tục; lượng khách đến thăm quan, du lịch Quảng Trị giảm đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng chậm hơn cùng kỳ các năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2014 ước tính đạt 14729 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá cả thì chỉ tăng 7,1%); trong đó, kinh tế nhà nước thực hiện 1559 tỷ đồng, chiếm 10,6% tổng mức và tăng 30%; kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 13170 tỷ đồng, chiếm 84,9% và tăng 12%.

a. Bán lẻ hàng hóa

Ước tổng mức bán lẻ hàng hoá 9 tháng năm 2014 thực hiện 12669,2 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, kinh tế nhà nước thực hiện 1434,7 tỷ đồng, tăng 19,7%; kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 11234,5 tỷ đồng, tăng 12,4%.

b. Hoạt động du lịch và dịch vụ

Quảng Trị là một tỉnh có nhiều Di tích Lịch sử; tuy nhiên, trong năm 2014 do không có các ngày Lể lớn diển ra trên địa bàn và kinh tế khó khăn nên lượng khách đến du lịch và thăm viếng các Di tích lịch sử giảm mạnh so với năm trước; ước số lượt khách do các đơn vị lưu trú phục vụ đạt 435377 lượt, giảm 15,6% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách du lịch theo tour 8773 lượt, giảm 41,2%. số ngày khách do các đơn vị lưu trú phục vụ (chỉ tính khách ngủ qua đêm) ước đạt 320533 ngày khách, giảm 15,9%; ngày khách du lịch theo tour 34703 ngày khách, giảm 40,3%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú 9 tháng năm 2014 ước thực hiện 51,1 tỷ đồng, giảm 8,6% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước thực hiện 1490,2 tỷ đồng, tăng 12,2%; doanh thu du lịch lử hành và hoạt động hổ trợ du lịch ước thực hiện 17 tỷ đồng, giảm 25%; doanh thu dịch vụ khác ước thực hiện 501,5 tỷ đồng, tăng 8,4%.

5.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2014 có bước khởi sắc so với cùng kỳ năm trước; số đơn vị tham gia xuất, nhập khẩu tăng; các doanh nghiệp những tháng gần đây ký kết được nhiều hợp đồng xuất, nhập khẩu so với trước; thời tiết thuận lợi cho thu mua và chế biến nông sản xuất khẩu; giá cả có cải thiện…; Tuy nhiên, tình hình suy giảm kinh tế thế giới vẫn còn ảnh hưởng; đòi hỏi của đối tác về chất lượng hàng hóa xuất khẩu ngày càng khắt khe hơn; quy mô xuất, nhập khẩu của tỉnh còn nhỏ bé…

a. Xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm 2014 ước thực hiện 147346 nghìn USD, tăng 76% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, kinh tế nhà nước thực hiện 25296 nghìn USD, tăng 23%; kinh tế tư nhân thực hiện 112924 nghìn USD, tăng 102,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 9126 nghìn USD, tăng 22,5%. Mặt hàng xuất khẩu: cà phê 10270 tấn, tăng 716,4%; cao su 828 tấn, giảm 30,9%; tinh bột sắn 10264 nghìn USD, tăng 25,1%; sản phẩm bằng plastic 10942 nghìn USD, tăng 66,8%; xe đạp và phụ tùng 9126 nghìn USD, tăng 27,7%; sản phẩm bằng gổ 4682 nghìn USD, giảm 1,7%; hàng hóa khác 99846 nghìn USD, tăng 91,6%.

b. Nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng năm 2014 ước thưc hiện 144357 nghìn USD, tăng 43,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, kinh tế nhà nước thực hiện 14025 nghìn USD, tăng 24,6%; kinh tế tư nhân thực hiện 125029 nghìn USD, tăng 54,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 5303 nghìn USD, giảm 34,5%. Mặt hàng nhập khẩu: thực phẩm chế biến 16681 nghìn USD, tăng 96,2%; hàng điện tử 1713 nghìn USD, giảm 61,9%; hàng hóa khác 125963 nghìn USD, tăng 44,3% .

5.3. Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ

9 tháng năm 2014, thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ như: cắt giảm đầu tư công, giảm lãi suất ngân hàng, áp dụng giá trần mặt hàng sữa, điều chỉnh giá xăng dầu…đã có tác động tích cực đến giá cả thị trường; hàng hóa trên thị trường khá dồi dào, phong phú; hơn nửa, tình hình kinh tế vẫn còn khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, sức mua hạn chế nên người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, cầu nội địa giảm… giá cả thị trường 9 tháng tương đối ổn định.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2014 so với tháng 12/2013 tăng 2,47% cụ thể: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,45%; Trong đó: lương thực tăng 0,73%, thực phẩm tăng 3,11%, ăn uống ngoài gia đình tăng 8,13%; Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 1,98%; Nhóm may mặc, giày dép, mũ nón tăng 4,81%; Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,17%; Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,01%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%; Nhóm giao thông tăng 1,17%; Nhóm bưu chính viển thông giảm 0,49%; Nhóm giáo dục tăng 1,84%; Nhóm văn hoá giải trí và du lịch tăng 0,45%; Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,80%.

Giá vàng tăng 1,41%; Giá USD giảm 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2014 so với cùng kỳ năm 2013 tăng 5,46% cụ thể: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 8,55%; Trong đó: lương thực tăng 17,67%, thực phẩm tăng 5,34, ăn uống ngoài gia đình tăng 9,22%; Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 2,78%; Nhóm may mặc, giày dép, mũ nón tăng 6,37%; Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,83%; Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,72%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,43%; Nhóm giao thông tăng 2,8%; Nhóm bưu chính viển thông tăng 0,23%; Nhóm giáo dục tăng 2,99%; Nhóm văn hoá giải trí và du lịch tăng 3,80%; Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 4,02%.

Giá vàng giảm 13,47%; Giá USD giảm 0,08%.

5.4. Hoạt động vận tải

Hoạt động kinh doanh vận tải trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2014 duy trì được tốc độ tăng trưởng; năm nay dịp nghỉ tết Nguyên đán và nghỉ lể kéo dài nên nhu cầu đi lại thăm quan, du lịch có tăng, giá xăng dầu những tháng gần đây có điều chỉnh giảm; hơn nửa, thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng cũng tăng; tuy nhiên, năm 2014 trên địa bàn tỉnh ít tổ chức các lể hội nên lượng khách đến Quảng Trị giảm so với năm trước nên tốc độ tăng trưởng của ngành vận tải đạt thấp.

a. Doanh thu vận tải

Ước doanh thu vận tải 9 tháng thực hiện 678,4 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước; Trong đó, doanh thu vận tải hành khách thực hiện 233,4 tỷ đồng, chiếm 34,5% và tăng 3,8%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 432 tỷ đồng, chiếm 63,7% và tăng 10,8%; doanh thu kho bãi và dịch vụ hổ trợ vận tải thực hiện 13,1 tỷ đồng, chiếm 1,8% và giảm 3,7%. Phân theo loại hình kinh tế: nhà nước thực hiện 7,7 tỷ đồng, chiếm 1,1% và tăng 46,2%; ngoài nhà nước thực hiện 670,7 tỷ đồng, chiếm 98,9% và tăng 7,7%.

b. Vận tải hành khách

Ước khối lượng hành khách vận chuyển 9 tháng năm 2014 thực hiện 4476,7 nghìn HK, do các đơn vị ngoài nhà nước thực hiện, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. phân theo ngành vận tải: vận tải đường bộ thực hiện 4465,3 nghìnHK, tăng 2,8%; vận tải đường sông thực hiện 11,3 nghìnHK, tăng 53,5%.

Khối lượng hành khách luân chuyển ước thực hiện 357309,2 nghìn HK.km, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. phân theo ngành vận tải: vận tải đường bộ thực hiện 357294,3 nghìnHK.km, tăng 2,8%; vận tải đường sông thực hiện 14,9 nghìnHK.km, giảm 31,6%.

c. Vận tải hàng hóa

Ước khối lượng hàng hoá vận chuyển 9 tháng năm 2014 thực hiện 5810,5 nghìn tấn, do các đơn vị ngoài nhà nước và ngành vận tải đường bộ thực hiện, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hoá luân chuyển ước thực hiện 292491,7 nghìn tấn.km, tăng 5,2%.

5.5. Hoạt động bưu chính, viễn thông

Đến nay trên địa bàn tỉnh có 163 điểm cung cấp dịch vụ bưu chính; trong đó, có 40 bưu cục, 3 kiốt, 108 xã có điểm BĐ-VHX, 6 đại lý chuyển phát, 6 thùng thư công cộng.

 Ước tính đến 30/9/2014, toàn tỉnh có 506082 thuê bao điện thoại, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, số thuê bao điện thoại phát triển mới trong 9 tháng là 107347 thuê bao, tăng 71,1%. Số thuê bao Internet là 45442 thuê bao, tăng 11,8%; trong đó, số thuê bao Internet phát triển mới trong 9 tháng là 965 thuê bao, giảm 2% so với cùng kỳ năm trước. Ước doanh thu bưu chính viễn thông 6 tháng đầu năm đạt 350 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng số trạm thu phát sóng điện thoại di động (BTS) đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 1180 trạm (438 trạm 3G, 742 trạm 2G).

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm và đời sống dân cư

1.1. Lao động, việc làm

Giải quyết việc làm gắn liền với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm tình trạng đói nghèo. Cùng với sự gia tăng dân số, lực lượng lao động bổ sung hàng năm rất lớn, nhưng nhờ các chương trình, dự án giải quyết việc làm, dự án nâng cao năng lực, gắn với đào tạo nghề, xuất khẩu lao động, công tác giải quyết việc làm có những chuyển biến tích cực.

Trong 9 tháng năm 2014, Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh đã tổ chức nhiều phiên giao dịch việc làm; qua đó đã tạo việc làm mới cho 6506 lao động (gồm 3744 lao động làm việc trong tỉnh, 1946 lao động đi làm việc ngoại tỉnh và 816 lao động xuất khẩu làm việc ở nước ngoài).

Số lao động được đào tạo nghề, giới thiệu học nghề thông qua Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh là 500 người ( đào tạo nghề nông thôn 147 người, đào tạo ngoại ngữ tham gia xuất khẩu lao động 209 người, giới thiệu học nghề 144 người).

1.2. Đời sống dân cư

Đến cuối năm 2013 trên địa bàn tỉnh còn 11,76% số hộ nghèo và 10,78% số hộ cận nghèo. Bước vào năm 2014 tình hình kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng; tỉnh đã có chủ trương và thực hiện nhiều biện pháp tích cực bảo đảm an sinh xã hội. Năm 2014 sản xuất nông nghiệp tỉnh Quảng Trị được mùa toàn diện, năng suất và sản lượng của hầu hết các loại cây trồng đều tăng; dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm ít xảy ra, tình hình chăn nuôi phát triển khả quan; giá nông sản hàng hóa tăng; thiên tai ít xảy ra nên đời sống của người nông dân được cải thiện; tình hình thiếu đói trong dân không xảy ra. Đời sống của cán bộ, công chức gặp khó khăn do tiền lương tối thiểu chưa tăng; các doanh nghiệp gặp khó khăn nên đời sống người lao động cũng bị ảnh hưởng; tuy nhiên, do giá tiêu dùng ổn định nên đời sống không bị ảnh hưởng nhiều.

Trong dịp tết Nguyên đán Giáp Ngọ 2014, thực hiện Quyết định số 12/QĐ-CTN ngày 06/01/2014 của Chủ tịch Nước về việc tặng quà cho các đối tượng có công với cách mạng Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 02/01/2014 của UBND tỉnh về việc Trích ngân sách phục vụ Tết Giáp Ngọ 2014; các cấp, các ngành, các địa phương tiến hành tổ chức thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm lo chu đáo đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân, nhất là các gia đình chính sách, có công, đồng bào nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội.

- Tổng kinh phí thực hiện chăm sóc đời sống người có công trên 8,65 tỷ đồng, góp phần đảm bảo không có gia đình chính sách, có công nào không có Tết.

- Chính phủ đã hỗ trợ 1458 tấn gạo và 500 tấn muối giúp các gia đình có hoàn cảnh khó khăn trong dịp tết.

- Tổng số quà được trao tặng đến người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội từ các nguồn ngân sách tỉnh, huyện và các tổ chức, đoàn thể, cá nhân trong dịp tết Giáp Ngọ 2014 trên 13,71 tỷ đồng.

Nhân kỷ niệm 67 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ, ngành Lao động, Thương binh và Xã hội đã làm tốt công tác tặng quà cho các đối tượng người có công với cách mạng theo Quyết định số 1525/QĐ-CTN của Chủ tịch nước. Tổng số kinh phí Chủ tịch nước, Lảnh đạo tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố và các tổ chức khác tăng quà cho người có công trên 6,85 tỷ đồng.

Trong 9 tháng năm 2014, toàn tỉnh đã trao tặng 53 nhà tình nghĩa với tổng trị giá trên 2,4 tỷ đồng cho đối tượng là gia đình chính sách; trao 167 nhà đại đoàn kết, nhà hộ nghèo, nhà tình thương với tổng trị giá trên 3,8 tỷ đồng cho các đối tượng là gia đình có hoàn cảnh khó khăn và hộ nghèo.  

Ngành Lao động, Thương binh và Xã hội đã thực hiện tốt việc rà soát đối tượng chính sách theo Chỉ thị 23 của Thủ tướng Chính phủ; đẩy mạnh phong trào đóng góp quỹ “ Đền ơn đáp nghĩa” chăm lo tốt hơn về đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công.

Nhân kỷ niệm “Ngày vì nạn nhân Chất độc da cam/dioxin Việt Nam - 10/8”,  Tỉnh đã tổ chức thăm và tặng quà, gạo cho một số gia đình nạn nhân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn với tổng trị giá quà tặng trên 300 triệu đồng cho các trường hợp nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin có hoàn cảnh khó khăn.

2. Giáo dục

Năm học 2014-2015 năm đầu tiên Ngành giáo dục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Bước vào năm học 2014-2015, quy mô trường lớp tiếp tục duy trì ổn định;  giáo dục phổ thông toàn tỉnh có 324 trường học phổ thông (tiểu học 160 trường, THCS 114 trường, PTCS 17 trường, PTTH 30 trường, TH 02 trường, Phổ thông 01 trường); có 4491 lớp học, giảm 15 lớp so với năm học trước (tiểu học 2523 lớp, giảm 11 lớp; THCS 1313 lớp, giảm 1 lớp; THPT 655 lớp, giảm 3 lớp); 124574 học sinh, giảm 1176 học sinh, học sinh giảm chủ yếu ở cấp tiểu học và trung học phổ thông; số giáo viên trực tiếp giảng dạy 8442 GV, tăng 29 GV. Giáo dục mầm non có 163 trường; nhà trẻ có 4711 cháu, giảm 28 cháu; 485 cô nuôi dạy trẻ, giảm 3 cô; mẫu giáo có 27112 cháu, giảm 1152 cháu; 2011 giáo viên mẫu giáo, giảm 155 GV.

Năm học 2013-2014 công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được quan tâm chỉ đạo và thực hiện đạt kết quả tốt. Đến nay, toàn tỉnh có 239/487 trường đạt chuẩn Quốc gia, tỷ lệ 49,1%. Mầm non có 66/163 trường đạt chuẩn, chiếm 40,5%; tiểu học 128/161 trường đạt chuẩn, chiếm 79,5%; trung học cơ sở có 41/131 trường đạt chuẩn, chiếm 31,3% và trung học phổ thông có 4/33 trường đạt chuẩn, chiếm 12,15%.

Về chất lượng giáo dục: các cấp học tiếp tục duy trì và phát huy tốt kết quả đạt được trong năm học trước. Xếp loại học lực năm học 2013-2014 như sau: tiểu học giỏi 54,3%, khá 24,9%, trung bình 19,1%, yếu 1,4%; THCS giỏi 20,3%, khá 37,9%, trung bình 37,7%, yếu 3,96%, kém 0,1%; THPT giỏi 6,4%, khá 45,3%, trung bình 41,6%, yếu 6,43%, kém 0,2%.

Thi học sinh giỏi năm học 2013-2014, cấp tiểu học có 13 giải Quốc gia về toán, 23 giải Quốc gia tiếng Anh qua mạng ( 3 HCV, 3 HCB, 4 HCĐ và 13 giải khuyến khích); cấp THCS, THPT có 17 em đạt giải học sinh giỏi cấp Quốc gia ( 01 giải nhất toán, 07 giải ba và 09 giải khuyến khích).

Công tác phổ cập giáo dục được duy trì, cũng cố khá vững chắc. Tính đến thời điểm này, Quảng Trị là tỉnh thứ 18 trong cả nước đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi và về đích trước 2 năm so với kế hoạch; có 9/9 huyện, thị xã, thành phố và 139/141 xã, phường, thị trấn được công nhận đạt chuẩn PCGDMN trẻ em 5 tuổi. Công tác phổ cập GDTHĐĐT được duy trì vững chắc và từng bước nâng chuẩn; toàn tỉnh có 9/9 huyện, thị xã, thành phố (không tính Cồn Cỏ) và 141/141 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGDTH – ĐĐT; trong đó có 39 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn mức độ 2 ( tăng 13 xã so với năm học trước). Phổ cập GDTHCS tiếp tục được giữ vững, chất lượng phổ cập ngày được nâng lên; có 141/141 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCTHCS.  

Cơ sở vật chất trường học được tăng cường; trong năm học các đơn vị trực thuộc sở đã xây mới và đưa vào sử dụng 39 phòng học; Sở Giáo dục và Đào tạo đã đầu tư 8,4 tỷ đồng để mua thiết bị dạy học và đồ chơi cho trẻ; 7,24 tỷ đồng để mua thiết bị dạy học ngoại ngữ.

Số học sinh bỏ học còn nhiều ở cả hai cấp học THPT và THCS: số học sinh THPT bỏ học là 766 em, chiếm tỷ lệ 2,89% (năm học trước 502 em - tỷ lệ 1,78% ); số học sinh THCS bỏ học 465 em, chiếm tỷ lệ 1,11% ( năm học trước 357 em – tỷ lệ 0,83%); số học sinh tiểu học bỏ học là 56 em, tỷ lệ 0,09% ( năm học trước 29 em – tỷ lệ 0,05%).

Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm nay, toàn tỉnh có 9048 thí sinh tham gia dự thi (có 330 thí sinh tự do); trong đó, thí sinh đăng ký dự thi ở hệ Trung học phổ thông là 8317 thí sinh (có 158 thí sinh tự do); thí sinh đăng ký dự thi ở hệ Giáo dục thường xuyên là 731thí sinh (có 172 thí sinh tự do). Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh đã thành lập 32 hội đồng coi thi với 390 phòng thi, tổng số cán bộ - giáo viên làm nhiệm vụ coi thi 1216 người. Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2014 tại tỉnh Quảng Trị đã diễn ra trật tự, an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Tỷ lệ tốt nghiệp toàn tỉnh (không tính thí sinh tự do) là 98,35%, tăng 15,15% so với năm trước; trong đó, Trung học phổ thông đạt 98,77%, tăng 3,17%; giáo dục thường xuyên đạt 92,12%, tăng 21,37%.

Công tác tuyển sinh Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp được  thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế, đúng quy trình và ít sai sót so với những năm trước. Đã tiếp nhận và chuyển giao cho các trường 13320 hồ sơ đăng ký dự thi vào các trường Đại học, Cao đẳng.

Kịp thời hỗ trợ 492,48 tấn gạo cho 3648 học sinh theo Quyết định số 36/2013/QĐ-TTg ngày18/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Công tác xã hội hóa giáo dục thu được nhiều kết quả, góp phần tích cực tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị trường học, xây dựng trường học “xanh, sạch, đẹp”...

3. Y tế

Hệ thống mạng lưới y tế tiếp tục được củng cố và phát triển. Công tác khám, chữa bệnh được duy trì tốt và có chất lượng. Đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác y tế. Đến nay toàn tỉnh có 12 bệnh viện (tỉnh 3, huyện 9), 7 phòng khám đa khoa khu vực, 141 trạm y tế xã, phường, thị trấn. Bệnh viện Đa khoa tỉnh được xây dựng mới với quy mô 700 giường bệnh, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2014; hoàn thành xây dựng giai đoạn I Bệnh viện lao, phổi đưa vào sử dụng; mở rộng và nâng cấp bệnh viện điều dưởng và phục hồi chức năng Cửa Tùng; hệ thống bệnh viện tuyến huyện cơ bản hoàn thành nâng cấp, đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả; tất cả các trạm y tế đã được xây dựng và cung cấp trang thiết bị y tế đảm bảo hoạt động. Đến nay đã có 35,46% số xã (50/141xã) đạt bộ tiêu chí Quốc gia về y tế.

Đến nay, toàn tỉnh có 2489 giường bệnh (kể cả trạm xá), tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Đội ngũ cán bộ y tế ngày càng được tăng cường về số lượng cũng như chất lượng chuyên môn; toàn tỉnh có 2821 cán bộ ngành y, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước (có 445 bác sĩ trở lên, tăng 1,6%); có 298 cán bộ ngành dược, giảm 5,1% (có 63 dược sỹ cao cấp trở lên, tăng 8,6%).

3.1.Công tác phòng chống dịch bệnh

Trong 9 tháng năm 2014, Sở Y tế đã tích cực chỉ đạo Trung tâm y tế dự phòng và các Trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và chủ động phòng ngừa không để dịch bệnh xảy ra tại các địa phương, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó khăn.

Sở Y tế nhận định, nguy cơ dịch do vi rút Ebola rất có khả năng xảy ra ở Quảng Trị, nhất là trong các mối quan hệ giao lưu văn hóa, du lịch, kinh tế, xã hội... Do đó, ngày 13/8/2014, Sở đã chỉ đạo Trung tâm Kiểm dịch Y tế Quốc tế Quảng Trị triển khai tờ khai y tế khách qua lại đối với những nơi có nguy cơ cao xảy ra dịch bệnh như ở các Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, La Lay và Cảng Cửa Việt.

Tính đến cuối tháng 8 năm 2014, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện 1266 ca mắc bệnh lỵ trực trùng, tăng 23,03% so với cùng kỳ năm trước; 332 ca mắc bệnh lỵ a mip, giảm 21,7%; 2677 ca mắc bệnh tiêu chảy, giảm 13,53%; 212 ca mắc bệnh sốt rét, giảm 21,19%; 191 ca mắc bệnh viêm gan siêu trùng, giảm 27,65%; 489 ca tiêm phòng dại, tăng 11,39%; 321 ca mắc bệnh thủy đậu, tăng 85,55%; 69 ca mắc bệnh sởi, tăng 7 lần; 395 ca quai bị, tăng 7,05%; 13228 ca mắc bệnh cúm, giảm 0,16%; 88 ca mắc bệnh Tay - Chân - Miệng, giảm 42,48%. Tất cả các ca bệnh đều được ngành y tế các cấp quản lý, theo dỏi và điều trị.

3.2.Tình hình nhiễm HIV/AIDS

Đảng và Chính phủ luôn quan tâm, hưởng ứng chiến dịch phòng, chống AIDS toàn cầu giai đoạn 2011 - 2015 do Liên hợp quốc phát động với chủ đề: “Hướng tới mục tiêu ba không: không còn người nhiễm mới HIV, không còn người tử vong do AIDS và không còn kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS”. Để đạt được các mục tiêu đó cần sự nỗ lực của các cấp lãnh đạo từ tuyến tỉnh và tuyến huyện, thị xã, thành phố; đặc biệt là các cán bộ trực tiếp làm công tác phòng, chống HIV/AIDS.

Tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban ngành, đoàn thể, tổ chức giám sát hoạt động ở các cấp; đẩy mạnh công tác truyền thông bằng nhiều hình thức nhằm giúp công tác phòng, chống HIV/AIDS thuận lợi, hiệu quả hơn. Ngành y tế tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan và các địa phương quản lý tốt các đối tượng nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng để bảo đảm cho người dân tránh lây nhiễm.

Tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2014, toàn tỉnh có 80/141 xã, phường, thị trấn phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS (tăng 15 xã so với cùng kỳ năm trước); Số người nhiễm HIV tại Quảng Trị là 273 người, số bệnh nhân chuyển sang AIDS là 142 người, số bệnh nhân đã tử vong do AIDS là 69 người, số người nhiễm HIV còn sống tại Quảng Trị là 204 người, số trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV là 7 trẻ, số bà mẹ mang thai nhiễm HIV sinh con là 34 bà mẹ ( không tính số ngoại tỉnh).

3.3.Tình hình ngộ độc thực phẩm

Ngành y tế đã có các hoạt động nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn như: tổ chức tốt tháng hành động Quốc gia vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2014 với chủ đề: “ An toàn thực phẩm thức ăn đường phố” với mục tiêu tạo nên đợt cao điểm, phát động một “ chiến dịch truyền thông đẩy mạnh các hoạt động vì chất lượng VSATTP” nhằm huy động toàn thể nhân dân, các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý tham gia vào việc phổ biến, tuyên truyền Luật An toàn thực phẩm, các văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP của Chính phủ, các bộ, ngành và UBND các cấp nhằm cung cấp kiến thức khoa học trong việc sản xuất, chế biến thực phẩm an toàn.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm nhằm hạn chế tối đa ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm. Tiếp tục duy trì và nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc thực thi pháp luật về VSATTP; đồng thời, nâng cao vai trò giám sát của các cơ quan quản lý và người tiêu dùng đối với việc thực thi pháp luật về VSATTP của cá nhân, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Do thực hiện tốt công tác kiểm tra VSATTP, nên trong 9 tháng năm 2014 không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra.

        4. Hoạt động văn hóa, thể thao

4.1. Hoạt động văn hóa

Trong 9 tháng năm 2014, nhiều hoạt động văn hóa chào mừng các ngày lể lớn và mừng xuân Giáp Ngọ 2014 được tổ chức tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh với nội dung phong phú, thu hút sự quan tâm, hưởng ứng của đông đảo quần chúng. Đáng chú ý là các hoạt động văn hóa lớn như: Lễ hội đón Giao thừa mừng Xuân Giáp Ngọ 2014; Lể hội “ Thống nhất non sông” năm 2014 và đón nhận Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt đối với 02 di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải và Thành cổ Quảng Trị, Lể thượng cờ Hiền Lương; Kỷ niệm 55 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh tại Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn; Bộ Tài chính phối hợp với tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ khánh thành công trình nâng cấp Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Đường 9; Hội hoa xuân tại Trung tâm VH tỉnh; tổ chức chương trình “ Đêm hoa đăng” tri ân các Anh hùng liệt sĩ trên sông Thạch Hãn, Nhà hành lễ - Bến thả hoa sông Thạch Hãn - TX  Quảng trị; Liên hoan văn nghệ các làng văn hóa toàn tỉnh năm 2014, có 09 đoàn văn nghệ của 09 làng văn hóa tham gia, với hơn 300 diễn viên; Liên hoan các nhóm tuyên truyền ca khúc cách mạng tỉnh Quảng Trị lần thứ IV - 2014 với chủ đề “Tổ quốc và những bản hùng ca”, có 16 đội tuyên truyền ca khúc cách mạng của tổ chức đoàn các huyện, thị xã, thành phố và đơn vị trực thuộc tham gia; Lễ hội đâm trâu truyền thống ở xã A Ngo (huyện Đakrông); Lể hội chợ Đình Bích La (huyện Hải Lăng)…Ngoài ra, các địa phương, đơn vị đã tổ chức nhiều đêm liên hoan văn nghệ, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân đến xem…

Thực hiện tốt công tác trưng bày Báo Xuân với 55 tờ báo Xuân của các tỉnh, thành phố trong nước và 160 loại báo, tạp chí khác. Tỉnh đã hoàn thành tập sách ảnh "Quảng Trị trên hành trình hội nhập và phát triển" nhân kỷ niệm 25 năm ngày tái lập tỉnh Quảng Trị (01/7/1989- 01/7/2014).

Làm tốt công tác khánh tiết, đón, phục vụ du khách và nhân dân đến thăm quan, thăm viếng, dâng hương tại các di tích, trong đó có các Đoàn Lảnh đạo Đảng, Nhà nước. Hoàn thành hồ sơ di tích Hệ thống làng hầm Địa đạo Vịnh Mốc - Vĩnh Linh trình Cục Di sản - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận di tích Quốc gia đặc biệt.

Tham gia chương trình nghệ thuật tuyên truyền lưu động với chủ đề: “ Huyền thoại một con đường” và “ Về với Điện Biên” kết quả đội tuyên truyền lưu động tỉnh Quảng Trị đạt 02 huy chương vàng toàn đoàn; tham dự Liên hoan dân ca Bình Trị Thiên tại tỉnh Thừa Thiên – Huế, đoàn Quảng Trị đạt giải nhì.

Cùng với việc tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động văn hóa cũng được tăng cường.

4.2. Hoạt động thể thao  

Trong 9 tháng năm 2014, hoạt động thể dục thể thao quần chúng diển ra sôi nổi tại nhiều địa phương, đặc biệt là hoạt động thể thao dân tộc, trò chơi dân gian cổ truyền diễn ra trong dịp tết Nguyên đán Giáp Ngọ - 2014 như: giải bóng chuyền, cầu lông Đảng uỷ Khối các cơ quan tỉnh năm 2014; giải bóng đá mini tỉnh Quảng Trị - Larue Cup năm 2014; giải Việt dã truyền thống, giải Cầu lông CBCCVC tỉnh; giải Điền kinh - huyện Cam Lộ; kéo co, cờ tướng, chơi đu, bài chòi, bóng chuyền, bóng đá, đua thuyền - huyện Vỉnh Linh; hội đu, chọi gà, nhảy bao bố, hội cù, giải bóng chuyền nam, đua thuyền truyền thống - huyện Gio Linh…

Tổ chức thành công Giải Thể thao người khuyết tật tỉnh Quảng Trị năm 2014, kết quả giải nhất đoàn TP Đông Hà, giải nhì đoàn huyện Vĩnh Linh, giải ba đoàn huyện Triệu Phong. Tham gia Hội thao Người khuyết tật toàn quốc năm 2014 tại Thành phố Cần Thơ, Đoàn Quảng Trị xếp thứ 3 toàn đoàn.

Tổ chức thành công Đại hội TDTT cấp huyện và Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VI năm 2013-2014. Kết thúc Đại hội TDTT tỉnh, Ban tổ chức đã trao giải Nhất toàn đoàn cho đoàn thành phố Đông Hà, giải Nhì cho đoàn huyện Hải Lăng, giải Ba cho đoàn thị xã Quảng Trị, giải Tư cho đoàn huyện Cam Lộ; giải Năm cho đoàn huyện Triệu Phong, giải Sáu cho đoàn huyện Vĩnh Linh. Ở khối ngành, lực lượng vũ trang, Ban tổ chức tặng cờ cho đoàn Công an tỉnh có thành tích xuất sắc trong thi đấu. Dự kiến Đoàn Thể thao Quảng Trị tham gia Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII năm 2014 với hơn 100 VĐV, tranh tài ở 68/743 nội dung thi đấu của 8/36 môn như: Đua thuyền rồng, Điền kinh, Bơi, Lặn, Rowing, Cử tạ, Vật, Karatedo và Cầu lông.

Duy trì luyện tập thường xuyên các lớp năng khiếu, đội tuyển tỉnh và đội tuyển trẻ. Tổng số VĐV được đào tạo tại trung tâm là: 94 VĐV; trong đó, gửi đi tập huấn 13 VĐV, 11 VĐV được triệu tập vào đội tuyển và đội tuyển trẻ Quốc gia. Tham gia giải vô địch môn Bơi, Lặn các nhóm tuổi tại Đà Nẵng, kết quả đạt 03 HCV, 04 HCB, 02 HCĐ; tham gia giải Đua thuyền truyền thống – Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII năm 2014 tại Hải Dương, kết quả đạt 02 HCV, 04 HCB, 02 HCĐ; tham gia thi đấu giải Điền kinh các lứa tuổi trẻ tại Huế, kết quả đạt 03 HCV, 02 HCB; tham gia thi đấu giải Cầu lông vô địch trẻ tại Hải Dương, giải Điền kinh TP Hồ Chí Minh, kết quả đạt 01 HCV, 03 HCB, 03 HCĐ. Tham gia thi đấu các giải quốc gia: Giải Vô địch quốc gia bể 25m môn Bơi -Lặn; Giải Cúp quốc gia Vật cổ điển, Vật tự do; Giải Vô địch Canoeing, Rowing CLB; Giải Vô địch các nhóm tuổi môn Bơi - Lặn; Giải Vật các lứa tuổi trẻ toàn quốc; Giải Vô địch đồng đội nam, nữ hỗn hợp môn Cầu lông; Giải Điền kinh các lứa tuổi trẻ... đạt 30 huy chương các loại: 10 HCV, 14 HCB, 06HCĐ.

5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường

Bước vào năm 2014, Tỉnh đã Chỉ thị cho các ngành công an, quân đội, các địa phương tổ chức tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy định cấm buôn bán, vận chuyển, tàng trữ và đốt pháo. Chỉ đạo kiểm tra các doanh nghiệp, cơ quan, trường học, bệnh viện, trung tâm thương mại, các chợ truyền thống, các khu dân cư có nguy cơ cháy cao; xây dựng phương án phòng, chống cháy nổ, cứu hộ, cứu nạn, đôn đốc các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tăng cường công tác kiểm tra phòng cháy, chữa cháy trong những ngày nghỉ, ngày tết. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh phối hợp Công an tỉnh, BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức tuần tra canh gác, bảo vệ các mục tiêu quan trọng và kiểm tra công tác quản lý các loại vũ khí, vật liệu nổ trong cơ quan, doanh nghiệp.

Mặc dù vậy, trong 9 tháng năm 2014 có 16 vụ cháy xảy ra, giảm 5,9% (-1 vụ) so với cùng kỳ năm trước. Tổng giá trị thiệt hại 11115 triệu đồng, tăng 11,65 lần.

Về lĩnh vực môi trường: các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra công tác bảo vệ môi trường, kiểm tra các cơ sở gây ô nhiểm môi trường nghiêm trọng. Trong 9 tháng năm 2014 không có vụ vi phạm môi trường nào xảy ra.

6. Tình hình thiên tai

Trong 9 tháng năm 2014, chủ yếu tập trung vào đầu tháng 5/2014, tỉnh Quảng Trị đã hứng chịu 03 trận lốc xoáy, gây thiệt hại về người và tài sản của nhân dân.

Ngày 8/5/2014 đã xảy ra một cơn lốc xoáy đi qua địa bàn thôn 4 thuộc xã Gio Hải, Thị trấn Cửa Việt (huyện Gio Linh); thôn Đức Xá thuộc xã Vỉnh Thủy (huyện Vỉnh Linh), làm 02 người chết, 03 nhà tốc mái, 01 thuyền bị chìm; thiệt hại trên 40 triệu đồng.

Ngày 25/5/2014 đã xảy ra một cơn lốc xoáy, sấm sét tại thôn Ba Bui thuộc xã Vĩnh Hà ( huyện Vĩnh Linh), sét đánh làm 1 người chết.

Ngày 19/5/2014 cũng đã xảy ra một trận mưa đá, kèm theo lốc xoáy kéo dài hơn 10 phút tại các xã Tân Long, Tân Thành và Thị trấn Lao Bảo (huyện Hướng Hóa) làm 05 người bị thương, 410 nhà tốc mái, 8 nhà bị sập, 129,8 ha cây công nghiệp bị gảy đổ, 13,5 ha hoa màu bị hư hỏng, 100 con gia cầm bị chết; thiệt hại gần 8300 triệu đồng.

Ước giá trị thiệt hại do lốc xoáy gây ra trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng 2014 là 8340 triệu đồng.

Ngay sau khi lốc xoáy xảy ra chính quyền các địa phương và các lực lượng xung kích đã kịp thời có mặt động viên giúp đở các hộ gia đình bị thiệt hại, tu sửa nhà cửa, dọn dẹp vệ sinh, ổn định cuộc sống.

7.Tai nạn giao thông

Từ 16/12/2013 đến 15/9/2014 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 199 vụ tai nạn giao thông, làm chết 104 người và bị thương 220 người; so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông giảm 7% (-15 vụ), số người chết tăng 7,2% (+7người), số người bị thương giảm 4,3% (-10 người); Trong đó: đường bộ xảy ra 197 vụ, làm chết 101 người, bị thương 219 người;  đường sắt xảy ra 2 vụ, làm chết 3 người, bị thương 1 người. Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông chủ yếu là do: đi không đúng phần đường quy định, không chú ý quan sát, chuyển hướng sai quy định, không làm chủ tốc độ…

Trên đây là tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2014, Cục Thống kê Quảng trị xin báo cáo để các cấp, các ngành biết chỉ đạo.

 

          CỤC THỐNG KÊ QUẢNG TRỊ   


Hoạt động trong ngành
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG NĂM 2023 - 05/03/2024
CÔNG KHAI DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NĂM 2024 - 28/02/2024
CÔNG KHAI QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH - 18/09/2023
Hoạt động của nữ công Cục Thống kê Quảng Trị chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10/2022 - 19/10/2022
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NĂM 2022 - 01/06/2022
THÔNG BÁO KẾT LUẬN THANH TRA - 25/05/2022
HỘI NGHỊ THỐNG KÊ TOÀN QUỐC - 18/03/2022
KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH THỐNG KÊ (06/5/1946-06/5/2021) - 25/04/2021
ĐIỀU TRA NÔNG THÔN NÔNG NGHIỆP GIỮA KỲ NĂM 2020 - 30/06/2020
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NĂM 2019 - 11/04/2019
Ý kiến kết luận của chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Chính tại buổi làm việc với Cục Thống kê - 30/08/2018
Chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị về việc chuẩn bị Tổng điều tra Dân số nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019 trên địa bàn tỉnh - 23/08/2018
Lễ công bố quyết định thành lập Chi đoàn Cục Thống kê Quảng Trị - 14/12/2017
Quyết tâm tổ chức thực hiện thắng lợi cuộc Tổng điều tra kinh tế 2017 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị - 16/03/2017
Thông báo lịch thi tuyển CC và triệu tập thí sinh 2017 - 23/02/2017
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2014 - 05/03/2014
Hoạt động trong ngành tháng 1 năm 2014 - 23/01/2014
Hoạt động trong ngành tháng 12 năm 2013 - 02/01/2014
Hoạt động trong ngành tháng 10 năm 2013 - 01/11/2013
Hoạt động trong ngành tháng 9 năm 2013 - 02/10/2013
Hoạt động trong ngành tháng 8 năm 2013 - 03/09/2013
Hoạt động trong ngành tháng 7 năm 2013 - 01/08/2013
Hoạt động trong ngành tháng 6 năm 2013 - 01/07/2013
Hoạt động trong ngành tháng 5 năm 2013 - 05/06/2013
Hoạt động trong ngành tháng 4 năm 2013 - 07/05/2013
Hoạt động trong ngành tháng 3 năm 2013 - 02/04/2013
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2013 - 02/04/2013
Hoạt động trong ngành tháng 12 năm 2012 - 28/12/2012
Hoạt động trong ngành tháng 11 năm 2012 - 30/11/2012
Hoạt động trong ngành tháng 10 năm 2012 - 02/11/2012
Kỷ niệm ngày thống kê thế giới - 18/10/2012
Hoạt động trong ngành tháng 9 năm 2012 - 01/10/2012
Hội nghị công tác thống kê tổng hợp năm 2012 - 16/08/2012
Hoạt động trong ngành tháng 7 năm 2012 - 01/08/2012
Hoạt động trong ngành tháng 6 năm 2012 - 02/07/2012
Hội thảo góp ý Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia - 15/06/2012
Hoạt động trong ngành tháng 5 năm 2012 - 04/06/2012
Hoạt động trong ngành tháng 4 năm 2012 - 02/05/2012
Hoạt động trong ngành tháng 3 năm 2012 - 30/03/2012
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2012 - 02/03/2012
Hoạt động trong ngành tháng 1 năm 2012 - 03/02/2012
Báo cáo tổng kết công tác 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012 do Ông: Nguyễn Thanh Nghị - Phó cục trưởng trình bày tại Hội nghị tổng kết ngành năm 2011 - 17/01/2012
Báo cáo tổng kết công tác thi đua - khen thưởng năm 2011 do Ông: Trần Ánh Dương - Phó cục trưởng trình bày trước Hội nghị Tổng kết ngành - 17/01/2012
Bài phát biểu của đồng chí Đỗ Thức, Tổng cục trưởng, tại Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2012 của ngành Thống kê - 11/01/2012
Hoạt động trong ngành tháng 12 năm 2011 - 30/12/2011
Hội nghị công bố kết quả điều tra đánh giá tình hình trẻ em và phụ nữ 2010-2011 - 19/12/2011
Hoạt động trong ngành tháng 11 năm 2011 - 28/11/2011
Hoạt động trong ngành tháng 10 năm 2011 - 28/11/2011
Hoạt động trong ngành tháng 9 năm 2011 - 30/09/2011
Hoạt động trong ngành tháng 8 năm 2011 - 25/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 7 năm 2011 - 24/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 6 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 5 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 4 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 3 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 2 năm 2011 - 22/08/2011
Hoạt động trong ngành tháng 1 năm 2011 - 22/08/2011
Công báo chính phủ Tổng cục Thống kê Niên giám Thống kê Gửi báo cáo Thống kê
Mạng riêng của ngành dieu tra doanh nghiep 2024 Biểu chế độ báo cáo Cục Thống kê tỉnh năm 2013 Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị

TIẾNG KINH HỎI ĐÁP
ĐIỀU TRA 53 DT KTXH